Chủ Nhật, 22 tháng 12, 2013


CỦA LỄ TÔI DÂNG LÊN CHÚA


1.
Kỷ niệm Chúa Giáng Sinh là một lễ lớn. Lễ trọng này bao giờ cũng gởi vào lòng tôi những món quà. Quà thuộc nhiều thứ. Nhưng quà mà tôi quý trọng nhất, chính là sự bình an.
Thời nào bình an cũng quý. Nhưng thời nay, bình an càng rất quý. Bởi vì nó rất cần và cũng rất hiếm. Riêng đối với tôi, bình an còn là một phép lành đặc biệt của Chúa.
2.
Khi nói “bình an là một phép lành đặc biệt của Chúa”, tôi có ý tách bình an này ra khỏi các thứ bình an khác. Bởi vì có nhiều thứ bình an. Thí dụ bình an do mình được đầy đủ về của cải, địa vị, sức khoẻ, bình an do mình không bị ai quấy rầy, bình an do mình không phải bận tâm lo cho người khác.
Bình an là một phép lành đặc biệt của Chúa, tức là thứ bình an, mà Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ trong bữa Tiệc Ly: “Thầy để lại bình an cho anh em. Thầy ban cho anh em sự bình an của Thầy, Thầy ban cho anh em sự bình an không như sự bình an mà thế gian ban tặng” (Ga 14,37).
Bình an mà Chúa vừa nói đã được tuyên bố trong đêm Chúa Giáng Sinh tại Bêlem xưa: “Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng:
Vinh danh Thiên Chúa trên trời
Bình an dưới thế cho người thiện tâm” (Lc 2,13-14).
Như vậy, bình an như một phép lành của Chúa được hiểu là bình an Chúa ban cho những người thiện tâm.
3.
Những người thiện tâm, mà ca đoàn các thiên thần ca ngợi đêm Chúa Giáng Sinh, chính là những người tin vào Lời Chúa. Họ là Đức Mẹ Maria, thánh Giuse và các mục đồng.
Đức Mẹ Maria đã được sứ thần của Chúa đến báo tin “Bà sẽ được thụ thai, sinh hạ một con trai, do quyền năng Chúa Thánh Thần. Con trẻ sẽ được đặt tên là Giêsu, được gọi là Con Đấng Tối Cao”. Đức Mẹ đã tin và đã thực thi ý Chúa.
Thánh Giuse đã được thiên thần báo mộng cho biết: “Đừng ngại đón Maria về với mình. Vì con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông sẽ đặt tên cho con trẻ là Giêsu. Chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ”. Thánh Giuse đã tin và đã thực thi ý Chúa.
Các mục đồng trong đêm Chúa Giáng Sinh, đã được sứ thần Chúa báo tin vui là: “Một Đấng Cứu Độ đã sinh ra. Người là Đấng Kitô Đức Chúa. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người. Anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã nằm trong máng cỏ”. Các mục đồng đã tin, đã tìm, và đã thấy Chúa Giêsu. Họ đã thực thi ý Chúa.
4.
Đức Mẹ Maria, thánh Giuse và các mục đồng có thể đã đón nhận được nhiều ơn riêng, khi gặp được Chúa Giêsu. Nhưng tất cả đều cảm nhận được sâu sắc ơn chung này, đó là sự bình an đặc biệt.
Sự bình an, mà các Đấng cảm nhận được, là thấy đời mình sẽ được bảo đảm. Cho dù cuộc đời sẽ rất gian nan, nhưng có Đấng Cứu Thế ở với mình, mình sẽ được Người cứu, nhất là cứu khỏi tội, để tới đích sau cùng là về với Thiên Chúa trên trời đầy vinh quang. Bình an đó là một món quà đặc biệt Chúa ban cho các Đấng, những người tin vào Lời Chúa và thực thi Lời Chúa.
5.
Còn tôi thì sao?
Với tâm tình khiêm cung và cảm tạ, tôi xin tuyên xưng điều này: Sự bình an, mà Chúa ban cho tôi như một món quà đặc biệt, được tôi cảm nghiệm là một sức thiêng liêng, khiến tôi nhận biết mình luôn cần được cứu. Đấng cứu tôi chính là Đức Giêsu, Người ở bên tôi, mặc dù tôi hèn hạ, tội lỗi. Người ở bên tôi, để gánh tội cho tôi, để đền tội cho tôi, để xoá tội cho tôi, để kéo tôi ra khỏi tội lỗi. Bình an như thế là luôn được Chúa cứu, luôn được trở về với Chúa, hy vọng chắc chắn sẽ tới thiên đàng.
6.
Sự bình an như thế không có nghĩa là được hưởng an nhàn. Bởi vì thực tế và chính Phúc Âm cũng cho tôi thấy là sự bình an, mà Chúa ban cho tôi, đòi tôi phải phấn đấu rất nhiều. Mang bệnh tật, nghèo khổ, mà không chán nản, nhưng hãy biết biến những đau khổ ấy thành của lễ đền tội. Bị loại trừ xa tránh, mà không oán hận, nhưng hãy dùng khổ cực đó thành cơ hội tha thứ và trả đáp bằng yêu thương. Tôi hiểu phấn đấu cao đẹp nhất, là dám chọn Chúa Giêsu là đường, là sự thật và là sự sống của tôi, mặc dầu gặp cản trở.
Như vậy, phấn đấu là một điều kiện cần của thiện tâm, phấn đấu cũng là một yếu tố cần của sự bình an.
7.
Đến đây, tôi cảm tạ Chúa và xin lỗi Chúa với tất cả tấm lòng khiêm tốn cậy tin.
Tôi cảm tạ Chúa đã ban cho tôi ơn thiện tâm, ơn bình an, và ơn phấn đấu với mức độ theo lòng thương xót Chúa.
Tôi xin lỗi Chúa, vì bao lần tôi đã có những thiếu sót và lầm lỗi trong việc đón nhận và sử dụng ba ơn nói trên.
8.
Tôi cảm nhận rất rõ:
Cuộc đời là một chuyến đi. Chuyến đi cuộc đời thường gặp nhiều trắc trở bất ngờ. Nếu tôi kiêu ngạo chủ quan nghĩ rằng: Tôi không cần đến ba ơn nói trên, hoặc chần chừ tự ái cho rằng mình không vội phải sửa mình, theo ba ơn nói trên, thì tôi sợ là điều gì phải tới sẽ tới, mà không kịp hối cải.
Vì thế, dịp lễ Chúa Giáng Sinh này, tôi xin nói lên một sự thực nên nói: Đó là tình hình đạo đức trong Hội Thánh nói chung, và tại Việt Nam nói riêng đang có nhiều bóng tối.
Có nhiều thiện tâm, nhưng những thiện tâm đích thực vẫn thiếu.
Có nhiều bình an, nhưng những bình an đích thực nay cũng vẫn thiếu.
Có nhiều phấn đấu, nhưng những phấn đấu đích thực vẫn còn rất thiếu.
Tôi cũng như nhiều người khác có thể ở trong danh sách những kẻ thiếu thiện tâm, thiếu bình an và thiếu phấn đấu.
Nhận định như thế đòi một sự khiêm nhường, sám hối, và cậy tin vào lòng thương xót Chúa. Đó là một hy vọng tốt, một niềm vui tốt.
9.
Với niềm hy vọng và niềm vui Phúc Âm, tôi bước sang năm 2014 với một quyết tâm mới, đó là sẽ dấn thân hơn.
Dấn thân hơn vào một cuộc sống hy sinh quên mình vì yêu thương theo gương Chúa Giáng Sinh.
Dấn thân hơn vào một cuộc sống giản dị, gần gũi và hoà mình  với những thân phận bé mọn, túng nghèo, như Thánh Gia tại Belem đối với các mục đồng.
Dấn thân hơn vào một cuộc sống làm chứng cho tình yêu thương xót Chúa bằng chính việc làm và cách sống hơn là bằng lời nói.
10.
Với tất cả tấm lòng yêu mến, tôi xin đem những suy nghĩ trên đây dâng lên Chúa, coi đó là một của lễ nghèo của người con bé nhỏ.
Dựa trên của lễ trên đây dâng lên Chúa, tôi xin chân thành gởi tới mọi người gần xa lời chúc tỉnh thức Phúc Âm, để có thể nghe được và đón nhận được lời chúc của ca đoàn thiên thần: “Bình an dưới thế cho người thiện tâm”, nhất là để gặp được Chúa Giêsu đang đến với chúng ta.
 Cũng dựa trên của lễ trên đây, tôi thành khẩn xin mọi người hãy cầu chúc cho Đức Thánh Cha Phanxicô một niềm vui Phúc Âm luôn mới, để đổi mới Hội Thánh một cách có hiệu quả trong giai đoạn đầy khó khăn này. Đức Thánh Cha nói nhiều đến người nghèo, và muốn Hội Thánh phải là Hội Thánh sống nghèo theo tinh thần Chúa Giáng Sinh. Tôi sợ cho Đức Thánh Cha. Nhưng tôi tin Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ là ngôi sao đêm Giáng Sinh dẫn đường cho nhiều người đến được với Chúa Giêsu.
                                                                                                                                   GB. Bùi Tuần

Long Xuyên, ngày 8 tháng 12 năm 2013.

Thứ Ba, 10 tháng 12, 2013

THẦY CÓ THẬT LÀ ĐẤNG PHẢI ĐẾN KHÔNG?

HỌC HỎI VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA
CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG NĂM A
MÁT-THÊU 11, 2-11:
THẦY CÓ THẬT LÀ ĐẤNG PHẢI ĐẾN KHÔNG?
2 Đang ngồi tù, ông Gio-an nghe biết những việc Đức Ki-tô làm, liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng : 3 "Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác ?" 4 Đức Giê-su trả lời : "Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe : 5 Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng, 6 và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi."
7 Họ đi rồi, Đức Giê-su bắt đầu nói với đám đông về ông Gio-an rằng: "Anh em ra xem gì trong hoang địa ? Một cây sậy phất phơ trước gió chăng ? 8 Thế thì anh em ra xem gì ? Một người mặc gấm vóc lụa là chăng ? Kìa những kẻ mặc gấm vóc lụa là thì ở trong cung điện nhà vua. 9 Thế thì anh em ra xem gì ? Một vị ngôn sứ chăng ? Đúng thế đó ; mà tôi nói cho anh em biết, đây còn hơn cả ngôn sứ nữa. 10 Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng : Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến.
11 "Tôi nói thật với anh em : trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gio-an Tẩy Giả. Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông."
I. TÌM HIỂU BẢN VĂN
1. Ngữ cảnh
Với các chương 11–12 này, chúng ta đến một khúc quanh trong Tin Mừng Mt. Trong mười chương trước, Nước Trời đến gần, dường như không hề gặp trở ngại nào; ở đây, có điều mới xuất hiện: các câu hỏi chính xác được đặt ra cho Đức Giêsu.
Gioan Tẩy Giả phái các môn đệ đến hỏi Đức Giêsu: “Thầy có đúng là Đấng phải đến không, hay chúng tôi còn phải đợi ai khác?” (11,3). Phía họ, những người Pharisêu cùng với các kinh sư (x. 12,38) đã ngỏ lời lần đầu tiên trực tiếp với Đức Giêsu với giọng trách móc và phê phán: “Ông coi, các môn đệ ông làm điều không được phép làm ngày sa-bát” (12,2). Đó là những câu hỏi quan trọng vừa xuất hiện. Đứng trước bản thân và hoạt động của Đức Giêsu, người ta phải lấy lập trường. Dường như Đức Giêsu có thể là “đối tượng gây vấp phạm” (11,6), còn “thế hệ này” không sẵn sàng đón tiếp Nước Trời đang đến gần, các thành ở bờ hồ không hoán cải (x. 11,20), phong thái của Đức Giêsu thực sự bị tranh luận (x. cả ch.12), và người ta đã “bàn bạc để tìm cách giết Đức Giêsu” (12,14) .
Bầu khí ngờ vực và đặt vấn đề này là bầu khí mới so với những gì xảy ra trước đây. Quả thật, cho tới nay, chúng ta đã thấy Đức Giêsu tỏ mình ra dần dần như là Đấng Mêsia; các chặng chính được Đức Giêsu trình bày với một nội dung huấn giáo phong phú:
1. Như một đoạn văn tổng quát báo trước, các ch. 1–2 đã giới thiệu xuất xứ của Đức Giêsu, con cháu vua Đavít và tổ phụ Abraham; ngay vào thời thơ ấu, Người đã tỏ ra là Đấng Kitô, là Đấng Mêsia, hoàn tất lịch sử thánh của Israel nơi bản thân và bằng số phận của Người.
2. Ở ch. 3–4, Vị Tiền Hô mà ngôn sứ Isaia đã loan báo, đã ban phép rửa cho Đức Giêsu: dịp này, Đức Giêsu đã đăng quang làm Đấng Mêsia; sau khi đã được Chúa Cha ban chứng từ thánh hiến, đã chịu quỉ thử thách, Người đã đi loan báo Tin Mừng về Nước Thiên Chúa.
3. Trong các ch. 5–7, qua huấn giáo của Đức Giêsu, người ta đã nhận ra quyền lực của Nước Thiên Chúa và đòi hỏi phải dấn thân; Bài Giảng trên núi đã khiến cho các đám đông phải kinh ngạc và thán phục.
4. Xuyên qua các phép lạ chữa bệnh mà Đức Giêsu đã thực hiện cũng như lời nói đầy hiệu năng của Người, các ch. 8–9 giúp khám phá ra uy quyền được ban cho Người cũng như quyền lực đầy năng động của Nước Thiên Chúa.
5. Ở ch. 10, qua bài sai ban cho Mười Hai Tông đồ và bài diễn từ truyền giáo, ta khám phá ra rằng các sứ giả của Nước Thiên Chúa được thực sự chia sẻ uy quyền của Đức Giêsu, do các ông được liên kết mật thiết với bản thân Người.
Xuyên qua tất cả các chương này, ta thấy danh tiếng của Đức Giêsu ngày càng lan rộng, bay sang cả các miền chung quanh (x. 4,24; 9,26.31). Sự chống đối chưa lộ rõ bao nhiêu, chỉ có một vài lời chỉ trích phát xuất từ nhóm Pharisêu (x. 9,11) hoặc các môn đệ của ông Gioan (x. 9,14), dưới dạng những câu hỏi lịch sự, chỉ có một phản ứng quyết liệt hơn lộ ra ở 9,34, nhưng cũng còn ngắn ngủi, để rồi chỉ được nhắc lại và triển khai ở 12,24. Nói đúng ra, trong tất cả những chuyện này, chưa có tranh luận, và ngôn ngữ ẩn dụ của các dụ ngôn chưa được sử dụng, ngoại trừ câu truyện về hai loại nhà kết luận Bài Giảng trên núi (x. 7,24-27).
Tuy nhiên, nên ghi nhận phương diện đe doạ và xung đột đã được mười chương đầu này của Tin Mừng nêu lên: ý định nham hiểm của vua Hêrôđê (x. 2,16), cuộc chiến đấu chống các cám dỗ (x. 4,1-11), lời loan báo những bách hại (x. 5,10-12.44; và nhất là 10,16-23.38). Nhưng đấy là một sự đối kháng mà Đức Giêsu luôn chiến thắng, hoặc là một lời Đức Giêsu kêu gọi đừng sợ hãi, mà hãy nhận ra mối phúc của Nước Thiên Chúa ngay giữa cuộc đối đầu gian khổ. Dù sao, dường như ơn cứu độ đã được đảm bảo cho người nào đứng vững tới cùng (x. 10,22). Do giọng điệu tha thiết của Đức Giêsu nhằm giúp các môn đệ đối phó với những khó khăn và trở ngại họ sẽ gặp, Bài diễn từ truyền giáo đã mở ra một viễn tượng mới: đó là cuộc thử thách đức tin sẽ phải trải qua.
Đã đến lúc phải tự hỏi về ý nghĩa của hoạt động của Đức Giêsu, như Mt đã trình bày khá dài: phải nghĩ gì về những “việc Đức Giêsu làm” (11,2.19)? Phải hiểu thế nào về những “cử chỉ quyền lực” ấy (11,20.21.23)? Thật ra đây là câu hỏi về tư cách Mêsia của Đức Giêsu: từ ngữ “Kitô” mà Mt đã sử dụng trong ch. 1–2, đến đây mới xuất hiện lại (x. 11,2). Dường như bây giờ chúng ta đã rơi vào tình trạng lưỡng lự: ơn cứu độ vẫn còn được trình bày như có thể đạt được mà thôi, trong khi đó rõ ràng các lần từ khước, các chống đối, các tranh luận lại nối tiếp nhau đặt Đức Giêsu thành vấn đề. Tác giả sẽ trình bày phần Tin Mừng còn lại như câu truyện về một sự từ khước. Chính là theo chiều hướng này mà chúng ta có thể nói đến một khúc quanh trong diễn tiến của Tin Mừng Mátthêu.
2. Bố cục
Bản văn có thể chia thành ba phần:     
1) Mở đầu cuộc tranh luận Kitô học (11,2-3);
2) Câu trả lời của Đức Giêsu về bản thân Người (11,4-6);
3) Bài tán dương của Đức Giêsu về Gioan (11,7-11; ở trong TM, thì đọc tới c. 15).
3. Vài điểm chú giải
- Đấng phải đến (3): dịch sát ho erchomenos là “Đấng đang đến”. Chúng ta nhớ đến lời rao giảng trước đây của Gioan: “Đấng đến sau tôi thì mạnh hơn tôi (ho opisô mou erchomenos)” (3,11). Lời này đưa chúng ta trở lại với sấm ngôn Isaia 40: “Kìa Đức Chúa đến với sứ mạnh [quang lâm hùng dũng], tay nắm trọn chủ quyền” (Is 40,10). Do đó, Đấng Mêsia cũng được gọi là “Đấng được chờ đợi”, “Đấng sẽ đến”, “Đấng Thẩm phán” (x. Dcr 9,9; Tv 118,26; St 49,10). Gioan đã so sánh sức mạnh của Đấng Mêsia với việc người tiều phu dùng rìu hạ cây (x. 3,10), rồi với người nông dân sàng sảy sân lúa (3,12). Ông mời gọi người tội lỗi hoán cải và ban một phép rửa giúp bày tỏ lòng sám hối, trước khi Đấng ấy đến, là Đấng ban phép rửa trong Thánh Thần và trong lửa để tiêu diệt (3,11). Đây chính là vị Thẩm phán đáng sợ sẽ dùng lửa không hề tắt mà tiêu diệt tất cả những kẻ tội lỗi không chịu hoán cải (x. Ml 3,2-3).
- phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi (6): “Cớ vấp phạm”, skandalon, là “cái bẫy đặt trên đường; chướng ngại vật làm cho người ta té ngã”; và nghĩa bóng là tất cả những gì làm cho người ta rơi xuống về mặt luân lý hay tôn giáo. Đức Giêsu tiên liệu rằng câu trả lời của Người có thể làm cho Gioan thất vọng, bởi vì quan niệm của ông về Đấng Mêsia quá khác với cách Đức Giêsu đang thực hiện hình ảnh Đấng Mêsia của Thiên Chúa. Chúng ta có thể nghĩ đến phản ứng của Phêrô khi nghe loan báo Thương Khó (Mt 16,22-23) hoặc Giôna sau khi thấy Thiên Chúa tha thứ cho thành Ninivê (Gn 4).
4. Ý nghĩa của bản văn
Gioan Tẩy Giả đã loan báo là đến sau ông, sẽ có một người mạnh hơn ông và vượt xa ông về phẩm cách. Người ấy sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần và sẽ tách lúa với vỏ trấu ra (3,11t; x. Is 40,10).
Bây giờ Vị Tẩy Giả đang ở trong tù. Do bởi thái độ cứng rắn và những lời nói đanh thép của ông, vua Hêrôđê Antipa đã phải ra lệnh bắt giam ông. Nhưng vì ông nổi tiếng là đạo đức, ông được đối xử đặc biệt; các bạn bè có thể đến thăm ông, cho ông biết những tin tức ở bên ngoài. Ông đặc biệt quan tâm đến Đức Giêsu Nadarét.
*  Mở đầu cuộc tranh luận Kitô học (2-3)
Gioan nghe nói đến những hành động của Đức Giêsu. Phải nghĩ về Đức Giêsu như thế nào? Người có thật là Đấng mà ông đã loan báo là đang đến chăng? Quyền bính và năng lực của Người đang đang được biểu lộ ra ở đâu? Chẳng lẽ trong thân phận tù tội, ông  không đáng được Đức Giêsu dùng quyền lực Người mà giải thoát sao? Người có thật đang tách hạt lúa khỏi vỏ trấu chăng? Ở đâu? Đức Giêsu là ai? Hẳn là Người phải nói năng và hành động cách mạnh mẽ và rõ ràng hơn chứ?
Khởi đi từ hoàn cảnh cá nhân ông và sự hiểu biết của ông về các hoạt động của Đức Giêsu, Gioan nêu ra câu hỏi quyết liệt: Phải chăng đã đến lúc hoàn tất mọi sự? Chúng tôi có thể tín nhiệm vào Người chăng? Người là ai? Các môn đệ của Vị Tiền Hô đã đến gặp Đức Giêsu và nêu câu hỏi đúng như thầy họ đã dặn. 
* Câu trả lời của Đức Giêsu về bản thân Người (4-6)
Đức Giêsu không cung cấp một câu trả lời rõ ràng và trực tiếp. Qua các môn đệ Gioan, Đức Giêsu đưa Vị Tiền Hô trở lại điểm xuất phát của câu hỏi của ông. Gioan phải diễn dịch ra được câu trả lời từ các việc Đức Giêsu làm, là chính những việc đã thúc đẩy Gioan đặt câu hỏi (11,2). Các môn đệ ông lại phải về làm chứng cho thầy về những việc Đức Giêsu đã làm (“Các anh cứ về thuật lại cho Gioan những điều mắt thấy tai nghe”) và Đức Giêsu mô tả các việc ấy ra bằng cách nhắc đến các lời hứa Cựu Ước (Is 35,5t; x. Is 35,4; 29,18-19; 61,1).
Đức Giêsu khẳng định rằng lời hứa ấy đang được hoàn tất nơi các hành vi của Người; qua các hành vi này, quả thực Thiên Chúa đang can thiệp để ban ơn cứu độ. Qua các hành động của Đức Giêsu, Nước Trời hay là quyền chúa tể của Thiên Chúa với quyền lực và ân sủng, đang thật sự trở nên gần gũi (4,17). Quyền chúa tể này trước tiên không được tỏ ra như là khả năng thắng vượt các quyền lực đối lập của loài người: Gioan sẽ bị chém đầu trong ngục (14,10); Đức Giêsu sẽ chết trên thập giá; các môn đệ Người sẽ bị bách hại (10,16-25). Triều đại Thiên Chúa cũng chưa tỏ hiện rõ ràng như việc tức khắc tách biệt lúa và vỏ trấu. Việc phán xét chung kết được dành cho ngày Con Người đến: khi đó kẻ dữ sẽ bị tách ra khỏi những người công chính (13,36-43.47-50). Nước Trời sẽ được biểu lộ nơi sự kiện những người sống trong cảnh cùng quẫn sẽ được Thiên Chúa trợ giúp (8,2–9,35) và nơi sự kiện Tin Mừng được loan báo với tất cả uy quyền (5,1–7,29). Đức Giêsu bắt đầu công việc rao giảng bằng cách loan báo mối phúc cho người nghèo (5,3); ở tại trung tâm của lời rao giảng này, có sứ điệp về vị Thiên Chúa quyền năng và nhân ái, sứ điệp về Cha Người và Cha của tất cả mọi người, Đấng muốn cho tất cả mọi người được hiệp thông mãi mãi trong vinh phúc với Ngài. Đức Giêsu tự giới thiệu mình như là Đấng cứu chuộc những người cùng khổ và như sứ giả làm chứng về niềm vinh phúc ấy. Trước tiên Người không đến như một người đấu tranh chống lại bạo lực và như thẩm phán nghiêm khắc. 
Mỗi người phải tự nhận định và lấy lập trường đối với Người (x. 11,20-24). Đức Giêsu cũng giúp chúng ta ý thức về điểm này: “Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi” (11,6). Người không áp đặt cách hành động của Người nhờ sức thuyết phục của những sự kiện hoàn toàn hiển nhiên; Người dành không gian cho người ta đón nhận hoặc từ khước, cho người ta tin hoặc không tin. 
* Bài tán dương của Đức Giêsu về Gioan (7-11)
Sau khi đã trả lời câu hỏi về thân thế Người, bây giờ Đức Giêsu đề cập đến công việc và bản thân của Vị Tẩy Giả (11,7-15). Người ca ngợi lối xử sự cương nghị và lối sống không ngạo mạn tự phụ của đấng không hề cúi gập người lại trước những bậc quyền quý như một cây sạy cong người trước gió (x. 14,3-12) và không ăn mặc lụa là mềm mỏng. Chính sự trung tín và sự dơn giản của ông làm cho ông trở nên đúng là một ngôn sứ nói nhân danh Thiên Chúa (x. 21,26.32) và đáng tin. Nhưng ông còn hơn là một ngôn sứ. Tất cả những vị đến trước ông đều thuộc về thời đại lời hứa, các vị ấy chỉ loan báo từ xa biến cố Đấng Mêsia đến trong quyền lực và mang theo ân sủng (11,13). Gioan là vị ngôn sứ của thời kỳ hoàn tất, nên cao trọng hơn tất cả các vị đi trước. Ông là sứ giả đi ngay trước Đức Chúa và chuẩn bị trực tiếp cho Người đến (11,10). Ông là Êlia đi trước Đức Chúa và chuẩn bị cho dân chúng đón tiếp Người (11,14; x. Ml 3,23; H c 48,10).
Với cách đánh giá Vị Tẩy Giả như thế, Đức Giêsu một lần nữa trả lời gián tiếp cho câu hỏi của ông. Nếu Gioan ở rất sát thời kỳ hoàn tất, thì với Đức Giêsu, thời này đã đến. Nếu Gioan là vị sứ giả dọn đường, thì với Đức Giêsu, người ta đã đón được Đức Chúa đến: không chính xác theo kiểu ông hình dung và chờ đợi (x. 3,12), mà là theo cách Thiên Chúa đã định. Sánh với những người đã đến trước, ông là người cao trọng nhất. Sánh với những người đang thuộc về Đức Giêsu và có thể trải nghiệm sự gần kề của Nước Trời trong sự hiệp thông với Người, ông là người nhỏ. Sự vĩ đại và nhỏ bé ấy không liên hệ đến ơn cứu độ hoặc giá trị luân lý của con người, nhưng liên hệ đến thời gian và biến cố trong đó người ấy được tham dự vào. Chính vì thế Đức Giêsu bảo rằng các môn đệ có phúc so với nhiều ngôn sứ và người công chính (13,16t). Như thế, thời đại và công trình của Đức Giêsu  có một ý nghĩa duy nhất.
 + Kết luận
Qua các môn đệ của Vị Tẩy Giả, Đức Giêsu cũng trả lời cho chúng ta: Người chính là Đấng Mêsia mà Thiên Chúa đã hứa ban cho dân Chúa từ ngàn xưa. Thiên Chúa vẫn trung thành với lời Ngài hứa; chỉ có con người qua dòng thời gian, đã giải thích sai lạc lời Thiên Chúa hứa để đưa nhau đến những niềm chờ mong hão huyền, theo lòng dạ hẹp hòi của mình. Hôm nay, Đức Giêsu mời chúng ta điều chỉnh lại cách chúng ta nhìn lịch sử cứu độ: không theo khuôn khổ các giấc mơ của chúng ta, nhưng đúng theo chương trình của Thiên Chúa. Và nếu qua Lời Chúa hôm nay, người môn đệ nhận ra rằng mình cũng được mời gọi làm Tiền Hô của Đức Kitô đối với con người hôm nay, thì chúng ta cũng cần nhớ rằng, chúng ta chỉ có thể chu toàn được sứ mạng nếu dựa vào phẩm cách cao quý của Đức Giêsu, Đấng chúng ta loan báo.
II. BÀI HỌC CHO CHÚNG TA
1. Hôm nay, nhiều Kitô hữu vẫn đang mơ một ơn cứu độ không phù hợp với cách Thiên Chúa quan niệm. Việc Đức Giêsu chữa bệnh và nhất là việc loan báo Tin Mừng cho người nghèo cho thấy rằng Người không phải là một thẩm phán nghiêm khắc nhưng là một vị Mêsia ân cần và từ bi. Thay vì trừng phạt những kẻ tội lỗi, loại trừ những kẻ gian ác, Người lại ban ơn chữa lành cả tâm hồn và thân xác, Người an ủi, Người soi chiếu, Người trợ giúp những ai đang đau khổ, Người đi qua giữa loài người để chỉ làm điều thiện (ch. 8–9), tha thứ tội lỗi (9,2). Hẳn là có những người khó chịu? Ngay chúng ta đây, chúng ta có chấp nhận được việc Thiên Chúa mạc khải tình yêu của Ngài ra trong sự khiêm nhường và yếu đuối chăng? Do đó Đức Giêsu đã nói: “Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi”. Đây cũng chính là “cớ vấp phạm” do các Mối Phúc gây ra.
2. Con đường tất cả các môn đệ phải theo là nhìn thấy các dấu chỉ mà biết giải thích đúng đắn, biết nhận ra đó là các công trình của Thiên Chúa. Đây là nẻo đường đức tin, khởi đi từ những điều thấy được và đưa tới chỗ khám phá ra Đức Giêsu là ai. Đây là con đường đưa từ bóng tối đến ánh sáng, đi từ những dấu chỉ đến với thực tại được ám chỉ. Nhìn Hài Nhi bé bỏng yếu ớt nằm trong máng cỏ, mà nhận ra đó là Cứu Chúa và Đức Chúa; nhìn Con người bị đóng đinh đau đớn và nhục nhã nhất mà nhận ra đó là Đức Vua Cứu thế, đấy là qua dấu chỉ mà khám ra được thực tại.
3. Đức Giêsu tôn trọng tự do chọn lựa hay từ chối của chúng ta; Người không áp đặt. Do đó, chúng ta không được đánh giá Đức Giêsu tùy theo các chờ đợi hoặc ước muốn của chúng ta, và dựa trên đó mà chỉ trích hay từ khước Người. Trái lại, chúng ta phải thấy thực sự Người là ai và Người đang làm gì, để rồi đón tiếp Người với niềm vui và tri ân, cho dù chúng ta phải sửa chữa và bỏ đi một vài ý tưởng hoặc sự chờ đợi sai lạc nào đó.

4. Là những con người sống ở thời đại “cuối cùng”, chúng ta “có phúc” hơn là chính Gioan Tẩy Giả. Tuy nhiên, chúng ta có biết trân trọng những ân huệ đang nhận và dùng những ân huệ đó mà xây dựng cuộc sống hạnh phúc cho người khác chăng?

Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2013

Lịch Phụng Vụ Tháng 12 Năm 2013 (Mùa Vọng Năm A)


Tháng Mười Hai 2013
Chủ Nhật1TmChúa Nhật Thứ Nhất Mùa Vọng
Is 2:1-5 Tv 122:1-2,3-4,45,6-7,8-9 Rm 13:11-14 Mt 24:37-44
Thánh Vịnh Tuần 2
29-10 (AL)
Thứ Hai2TmThứ Hai Tuần Thứ Nhất Mùa Vọng
Is 2:1-5;Is 4:2-6 Tv 122:1-2,3-4,4-5,6-7,8-9 Mt 8:5-11
30-10 (AL)
Thứ Ba3TrThánh Phanxicô Xaviê, Lm
Is 11:1-10 Tv 72:1,7-8,12-13,17 Lc 10:21-24
1-11 (AL)
Thứ Tư4TmThánh Gioan Đamátxênô, Lmts
Is 25:6-10 Tv 23:1-3,3-4,5,6 Mt 15:29-37
2-11 (AL)
Thứ Năm5TmThứ Năm Tuần Thứ Nhất Mùa Vọng
Is 26:1-6 Tv 118:1,8-9,19-21,25-27 Mt 7:21,24-27
3-11 (AL)
Thứ Sáu6TmThánh Nicôla, Tiến Sĩ
Is 29:17-24 Tv 27:1,4,13-14 Mt 9:27-31
4-11 (AL)
Thứ Bảy7TrThánh Ambrose, Gmtsht
Is 30:19-21,23-26 Tv 147:1-2,3-4,5-6 Mt 9:35;10:1,6-8
5-11 (AL)
Chủ Nhật8TmChúa Nhật Thứ Hai Mùa Vọng
Is 11:1-10 Tv 72:1-2,7-8,12-13,17 Rm 15:4-9 Mt 3:1-12
Thánh Vịnh Tuần 3
6-11 (AL)
Thứ Hai9TrLễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội
Is 35:1-10 Tv 85:9-10,11-12,13-14 Lc 5:17-26
7-11 (AL)
Thứ Ba10TmThứ Ba Tuần Thứ Hai Mùa Vọng
Is 40:1-11 Tv 96:1-2,3,10,11-12,13 Mt 18:12-14
8-11 (AL)
Thứ Tư11TmThánh Damasus I, Giáo Hoàng
Is 40:25-31 Tv 103:1-2,3-4,8,10 Mt 11:28-30
9-11 (AL)
Thứ Năm12TrLễ Đức Mẹ Guadalupe
Is 41:13-20 Tv 145:1,9,10-11,12-13 Mt 11:11-15
10-11 (AL)
Thứ Sáu13ĐThánh Lucia, Đttđ
Is 48:17-19 Tv 1:1-2,3,4,6 Mt 11:16-19
11-11 (AL)
Thứ Bảy14TrThánh Gioan Thánh Giá, Lmts
Hc 48:1-4,9-11 Tv 80:2-3,15-16,18-19 Mt 17:10-13
12-11 (AL)
Chủ Nhật15TmChúa Nhật Thứ Ba Mùa Vọng
Is 35:1-6,10 Tv 146:6-7,8-9,9-10 Gc 5:7-10 Mt 11:2-11
Thánh Vịnh Tuần 4
13-11 (AL)
Thứ Hai16TmThứ Hai Tuần Thứ Ba Mùa Vọng
Ds 24:2-7,15-17 Tv 25:4-5,6-7,8-9 Mt 21:23-27
14-11 (AL)
Thứ Ba17TmThứ Ba Tuần Thứ Ba Mùa Vọng
St 49:2,8-10 Tv 72:3-4,7-8,17 Mt 1:1-17
15-11 (AL)
Thứ Tư18TmThứ Tư Tuần Thứ Ba Mùa Vọng
Hc 23:5-8 Tv 72:1,12-13,18-19 Mt 1:18-24
16-11 (AL)
Thứ Năm19TmThứ Năm Tuần Thứ Ba Mùa Vọng
Tl 13:2-7,24-25 Tv 71:3-4,5-6,16-17 Lc 1:5-25
17-11 (AL)
Thứ Sáu20TmThứ Sáu Tuần Thứ Ba Mùa Vọng
Is 7:10-14 Tv 24:1-2,3-4,5-6 Lc 1:26-38
18-11 (AL)
Thứ Bảy21TmThánh Phêrô Canisius, Lmts
Dc 2:8-14;Xp 3:14-18 Tv 33:2-3,11-12,20-21 Lc 1:39-45
19-11 (AL)
Chủ Nhật22TmChúa Nhật Thứ Tư Mùa Vọng
1 Sm 1:24-28 1 Sm 2:1,4-5,6-7,8 Lc 1:46-56
Thánh Vịnh Tuần 3
20-11 (AL)
Thứ Hai23TmThánh Gioan thành Kanty, Lm
Ml 3:1-4,23-24 Tv 25:4-5,8-9,10,14 Lc 1:57-66
21-11 (AL)
Thứ Ba24TmThứ Ba Tuần Thứ Tư Mùa Vọng
2 Sm 7:1-5,8-11,16 Tv 89:2-3,4-5,27,29 Lc 1:67-79
22-11 (AL)
Thứ Tư25XLễ Giáng Sinh
Is 52:7-10 Tv 98:1,2-3,34,5-6 Dt 1:1-6 Ga 1:1-18;1:1-5,9-14
23-11 (AL)
Thứ Năm26ĐThánh Stêphanô, Tđ
Cv 6:8-10;7:54-59 Tv 31:3-4,6,7,8,17,21 Mt 10:17-22
24-11 (AL)
Thứ Sáu27TrThánh Gioan, Tông Đồ Thánh Sử
1 Ga 1:1-4 Tv 97:1-2,5-6,11-12 Ga 20:2-8
25-11 (AL)
Thứ Bảy28ĐCác Thánh Anh Hài
1 Ga 1:5–2:2 Tv 124:2-3,4-5,7-8 Mt 2:13-18
26-11 (AL)
Chủ Nhật29TrLễ Thánh Gia
1 Sm 1:20-22,24-28 Tv 84:2-3,5-6,9-10 1 Ga 3:1-2,21-24 Lc 2:41-52
27-11 (AL)
Thứ Hai30TrThứ Hai trong tuần Bát Nhật Lễ Giáng Sinh
1 Ga 2:12-17 Tv 96:7-8,8-9,10 Lc 2:36-40
28-11 (AL)
Thứ Ba31TrThánh Sylvester I, Giáo Hoàng
1 Ga 2:18-21 Tv 96:1-2,11-12,13 Ga 1:1-18
29-11 (AL)
 
Nguồn: http://www.songtinmungtinhyeu.org/lichconggiao.php?open=lichconggiao&thang=12&nam=2013

Mừng SINH CHA GS.ĐINH QUANG THÀNH

CẢM TẠ CHÚA ĐÃ CHO CON LÀM NGƯỜI
VÀ CHO CON ĐƯỢC VINH DỰ LÀM MỘT SỐ CÔNG VIỆC
CHÚA ĐÃ LÀM LÚC TẠI THẾ.
XIN CẢM TẠ ƠN CHÚA ĐẾN MUÔN ĐỜI!


Kết thúc Lớp Giáo Lý Dự Tòng III-2013

Kết thúc lớp giáo lý Dự Tòng gx Chánh Tòa Long Xuyên 06/12/2013.
Chào mừng các Kitô Hữu mới gia nhập Hội Thánh.
Xin Chúa tuôn đổ muôn ơn lành trên các anh chị
Phan Nhựt (trích từ Facebook)

Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013