Thứ Hai, 23 tháng 12, 2013

ĐIỀU RĂN MỚI


Thứ ba, ngày 16 tháng bảy năm 2013

CẦU NGUYỆN MỘT CÁCH RIÊNG BIỆT

GM.GB. Bùi Tuần
1.
Ngày 8-7-2013 vừa qua, tôi hân hậnh nhận được lá thư của Quốc Vụ Khanh Toà Thánh đề ngày 24-6-2013.
Với nội dung thân tình, lá thư nói về Đức Thánh Cha Phanxicô có đoạn như sau: “Khi cuộc sống đã xế chiều, việc cầu nguyện một cách riêng biệt trở thành ‘sự duy  nhất cần thiết’ cho việc thánh hoá bản thân, và cho việc xây dựng thân thể Đức Kitô, là Hội Thánh”.
2.
Câu tâm sự trên đây đến với tôi rất đúng lúc. Bởi vì đời sống của tôi đang xế chiều. Tôi đang đi vào bóng đêm. Đêm nói đây không chỉ là sự xuống dốc của sức khoẻ, mà chủ yếu là  những cơn đau. Đau thân xác vẫn nhiều. Đau tâm hồn lại nhiều hơn. Đau xác khổ hồn làm nên những cơ cực, tự mình như muốn xa tránh và loại trừ mình.
Thêm vào những khổ đau của bản thân, lại gánh thêm những khổ đau của bao người khác. Một cách nào đó, khổ đau của Hội Thánh và của Quê Hương luôn dằn vật lương tâm tôi.
Cho dù có phần chủ quan, đau khổ nào cũng là một thực tại nặng nề.
Tôi không phải là đứng trước một đêm tối khủng khiếp, mà là đứng trong đêm hãi hùng. Tôi không trốn đâu được.
3.
Nhưng chính trong sâu thẳm hãi hùng đó đã phát sinh một đời sống đức tin đặc biệt.
Tôi tin Đấng có thể cứu chúng tôi là Chúa.
Với niềm tin ấy, tôi cầu xin Chúa thương cứu tôi, cứu những người khác, cứu Hội Thánh và cứu Quê Hương. Cầu nguyện của tôi là rất riêng biệt.
4.
Tôi nhận mình tội lỗi, yếu đuối, hèn hạ. Tôi năn nỉ. Tôi nài van. Tôi xin Chúa Thánh Thần thương cầu nguyện trong tôi và với tôi. Đôi khi tôi nại đến Lời Chúa để cầu xin với Chúa. Như: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa sẽ mở cho. Ai trong anh em là một người cha, mà khi con xin cá, lại lấy con rắn thay vì cá mà cho nó? Hoặc nó xin trứng, mà lại cho nó con bọ cạp? Vậy, nếu anh em là những kẻ xấu, mà còn biết cho con cái những của tốt lành, phương chi Cha trên trời, Người sẽ ban Thánh Thần cho những kẻ xin Người” (Lc 11,9-13).
5.
Và, thực sự, Chúa đã ban Thánh Thần cho tôi, khi Người gởi đến cho tôi những trái tim nhân ái. Họ cứu tôi bằng những việc cụ thể, quảng đại, và tế nhị. Qua tình thương của họ, tôi tin Nước Thiên Chúa đang đến với tôi, với những người thuộc về tôi, và đến với Quê Hương tôi. Chúa dùng họ để làm những phép lạ cứu tôi.
6.
Thế là, từ đức tin, việc cầu nguyện của tôi chuyển dần sang bác ái. Tôi cầu xin Chúa cho Hội Thánh của tôi được nhiều trái tim biết thương người theo gương Chúa Giêsu, Đấng đã làm chứng rằng: Chỉ tình yêu mới cứu được loài người. Một tình yêu dám chấp nhận hy sinh mình trên thánh giá.
Từ đó, cầu nguyện của tôi được xác định theo hướng đức tin phải được chứng minh bằng bác ái thương người.
- Thương người một cách cụ thể, như làm các việc thương người mà Chúa sẽ căn cứ vào để cho được đứng bên hữu Chúa trong ngày phán xét (x. Mt 25,31-40).
- Thương người một cách quảng đại, như người Samaritanô tốt lành, mà Chúa đã nêu gương cho những người tin Chúa (x. Lc 10,29-32).
- Thương người một cách ưu tiên, như dấu chỉ chính thức của người môn đệ Chúa Giêsu (x. Ga 13,36).
7.
Mới rồi, tôi được may mắn đọc thư mục vụ Mùa Chay 2012 của Đức Hồng Y Jorge Bergoglio, nay là Đức Giáo Hoàng Phanxicô, gởi cho Tổng giáo phận Buenos Airs, trong đó Ngài quả quyết: “Không là đức tin thực sự nếu đức tin ấy không được diễn tả ra tình yêu. Tình yêu không quảng đại và cụ thể, sẽ không là tình yêu Kitô hữu”.
8.
Như vậy, cái nhìn của người có đức tin phải là cái nhìn của tình yêu. Một tình yêu thương xót, biết kiên trì đi từng bước nhỏ. Một tình yêu đón nhận, biết kính trọng những khác biệt, để xây dựng tình nghĩa. Một tình yêu sáng tạo, biết biến đổi cái xấu thành cái tốt. Một tình yêu phân định, biết chọn cái nên làm, bỏ cái không nên làm tuỳ thời điểm.
Chính vì thế, mà cầu nguyện hằng ngày của tôi là xin Chúa giúp tôi chấn chỉnh lại cái nhìn về người khác.
Bỏ đi những cái nhìn kết án.
Bỏ đi những cái nhìn xoi bói.
Bỏ đi những cái nhìn dửng dưng.
Bỏ đi những cái nhìn đại gia, quý tộc như người phú hộ bị chúc dữ trong Phúc Âm (x. Lc 16,19-31).
Nhưng hãy có những cái nhìn dấn thân hơn cho Chúa trong mọi người thiếu thốn khổ đau, theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
9.
Đổi cái nhìn là rất khó. Có thể nói, đổi cái nhìn là đổi mới chính mình trở thành một tạo vật mới.
Việc đổi mới này không thể thực hiện được chỉ nhờ học hỏi các tài liệu, nhờ tham gia các khoá hội thảo, nhờ đưa ra những khẩu hiệu, những nghị quyết, những tuyên hứa. Nhưng nhất quyết phải nhờ ơn Chúa, qua hoán cải chính mình, qua tập luyện kiên trì, nhất là qua cầu nguyện.
10.
“Cầu nguyện một cách riêng biệt” đó là việc Đức Thánh Cha Phanxicô đang làm. Đó cũng là việc Toà Thánh gợi ý cho tôi.
Tôi đang cầu nguyện như một người già nua đau yếu.
Tôi đang cầu nguyện như một người tội lỗi sám hối trở về.
Tôi đang cầu nguyện như một trẻ nhỏ ngây thơ.
Tôi đang cầu nguyện như người kẻ trộm bị đóng đinh bên hữu Chúa.
Tôi đang cầu nguyện như một người sắp ra đi.
Tôi đang cầu nguyện cho Đức Thánh Cha và cùng với Đức Thánh Cha.
Tôi đang cầu nguyện rất nhiều cho các mục tử tại Quê Hương tôi biết đọc được ý Chúa trong các dấu chỉ của thời đại, để biết thương xót đoàn chiên một cách cụ thể và quảng đại, nhất là bớt cho con cái mình những gánh nặng không cần thiết trong tình hình khó khăn và phức tạp hiện nay.
Tôi cầu nguyện và xin mọi người cầu nguyện cho tôi.
Long Xuyên, ngày 10 tháng 7 năm 2013



Thứ năm, ngày 04 tháng bảy năm 2013

ĐÀO TẠO ĐỂ THEO ĐƯỜNG HƯỚNG MỤC VỤ CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

GM. GB. Bùi Tuần 
1.
Đức Thánh Cha Phanxicô đã nêu ra hướng mục vụ của Ngài, đó là mở ra về phía Chúa và về phía con người.
Hai hướng đó cần được thực hiện đi đôi với nhau.
Con đường mở ra là tình yêu.
Gương và sức mạnh mở ra là Chúa Giêsu.
2.
Trong bài diễn văn đọc trước Hội nghị Uỷ Ban Giáo Hoàng cho châu Mỹ Latinh, tại Roma, ngày 18-2-2009, Đức Jorge Bergoglio, sau này là Đức Giáo Hoàng Phanxicô, đã nhấn mạnh đến việc đào tạo linh mục. Đại ý như sau: Đào tạo này theo thánh Tôma và thánh Ambrosiô, là “Đức Kitô hình thành trong chúng ta, là chúng ta đón nhận được đức ái của Đức Kitô”.
Mục tử phải là người có kinh nghiệm sâu sắc về Thiên Chúa, theo khuôn mẫu của trái tim Chúa Giêsu. Họ luôn ngoan ngoãn với những tác động của Chúa Thánh Thần... Được như vậy, mục tử phải nuôi mình bằng Lời Chúa, Thánh Thể và cầu nguyện... Họ sẽ là mục tử thừa sai, biết bảo vệ đoàn chiên và đi tìm chiên lạc... Họ sẽ là những người phục vụ cuộc sống, biết để ý đến những nhu cầu của những kẻ yếu đuối... Họ sẽ là linh mục của lòng thương xót.
3.
Ngoài ra, đời sống thiêng liêng vừa kể còn sẽ được xây dựng bằng việc đào sâu thần học, triết học và Kinh Thánh. Tất cả đều mở ra về mầu nhiệm Chúa Giêsu, giúp chúng ta gắn bó với Chúa Giêsu, Đấng mà chúng ta tin cậy với tất cả con người, linh hồn, trí khôn, trái tim. Người sẽ ban cho chúng ta Thần Khí của Người, đưa chúng ta vào chân lý toàn diện.
Trong bài giảng thánh lễ mừng Quốc Khánh nước Achentina, ngày 25-5-2012 tại Nhà Thờ Chánh Toà Thủ Đô, Buenos Aires, Đức Hồng Y Jorge Bergoglio, quả quyết: “Chỉ tình yêu sẽ cứu được chúng ta”. Ngài nói về tình yêu của Chúa Giêsu.
4.
Điều đáng chú ý là Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến việc mục tử phải biết áp dụng tất cả đời sống thiêng liêng và học thuyết của mình vào thực tế.
Thực tế mà tác giả nhấn mạnh là cái tâm của nền văn hoá dân tộc mình. Cái tâm đó chính là sự khôn ngoan đạo đức tiềm ẩn trong lòng dân. Thí dụ sự kính trọng dành cho những gì là linh thiêng, sự hướng lòng mình về một Đấng Tối Cao có quyền thưởng phạt.
5.
Áp dụng vào thực tế như thế đòi một khả năng phân định. Người mục tử biết phân định, là giữa một tình hình hỗn độn, ngài biết giữ lại cái gì là tốt, biết đưa đàn chiên đến những nơi thực sự có cỏ xanh và nước sạch, biết bảo vệ đàn chiên khỏi những mục tử giả, những lái buôn.
6.
Qua những bài diễn văn của Đức Thánh Cha, tôi thấy hướng mở ra về phía Thiên Chúa đã rất rõ, hướng mở ra về phía con người cũng khá rõ.
Riêng hướng mở ra về phía con người được Đức Thánh Cha dần dần làm rõ thêm qua những trả lời báo chí phỏng vấn Ngài. Ngài nói là: Cần cổ võ cho một nền văn hoá của sự gặp gỡ. Trong cuốn “Tôi tin vào con người”, hai nhà báo được nói chuyện nhiều lần với Đức Jorge Bergoglio đã nhắc đi nhắc lại ý muốn của Đức Thánh Cha về sự phải coi gặp gỡ là mục vụ và văn hoá.
7.
Ngài nói về Đất Nước Achentina của Ngài rất là bè phái. Người ta thích nhấn mạnh đến những gì chia rẽ nhau hơn là những gì đoàn kết với nhau. Người ta thích cổ võ tranh chấp hơn là hoà hợp. Chỉ có văn hoá gặp gỡ mới đưa gia đình và dân tộc đi về phía tương lai tốt đẹp.
Nói về Hội Thánh tại Achentina, Ngài nói cơn cám dỗ lớn nhất là các linh mục trở thành nhà cai trị, chứ không còn là mục tử. Ngài than phiền: Nhiều người đến nhà xứ vì lý do bí tích hay việc nào đó, thì không được linh mục tiếp, mà là một bà thư ký tiếp, bà đó rất khó tính. Vấn đề thực là bà đó không phải chỉ làm cho người ta sợ và xa cha sở, mà còn làm cho người ta bỏ Hội Thánh và bỏ Chúa Giêsu.
8.
Vì thế, theo Đức Phanxicô, tân Phúc Âm hoá là hãy bắt đầu bằng gặp gỡ. Gặp gỡ thân tình.
Gặp gỡ thân tình còn là đi đến với con người. Phúc Âm nói: Mục tử nhân lành bỏ 99 con tốt, để đi tìm một con chiên lạc. Còn thực tế trong Hội Thánh chúng ta, thì xem như ngược lại.
Đức Thánh Cha coi mục vụ gặp gỡ và văn hoá gặp gỡ là rất quan trọng. Nhưng thực hiện được đến mức nào thôi vẫn chỉ là hy vọng.
Ngài coi việc thực hiện ý nguyện của Ngài là rất khó, như phải nhảy xuống sông trong đêm tối. Tuy nhiên, Ngài vẫn hy vọng, Ngài tin rằng: Về mặt nhân bản, nơi mỗi con người vẫn có những tiềm năng tốt. Về mặt đức tin, con người vẫn được Chúa thương bằng một tình yêu nhưng không đầy thương xót.
9.
Với một thoáng nhìn trên đây về Đức Thánh Cha Phanxicô, tôi thấy hướng mục vụ của Ngài giúp tôi thực thi một cách sâu sắc hơn hướng mục vụ của Hội đồng Giám Mục Việt Nam được tuyên bố trong thư mục vụ 1980 đó là: “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc”.
Thực thế, “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc” chính là hướng mở ra về phía Chúa và cũng mở ra về phía dân tộc.
Điều tôi thấy cần bắt chước Đức Thánh Cha, để thực thi đường hướng đó một cách sâu sắc hơn, đó là cố gắng nhiều hơn đến việc đào tạo đời sống thiêng liêng. Tôi thấy Đức Thánh Cha Phanxicô có một đời sống thiêng liêng rất sâu, rất mạnh, rất vững, đặc biệt là ở điểm khiêm nhường và yêu thương.
10.
Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến trách nhiệm phải cứu con người khỏi khổ, nhất là khỏi tội lỗi, cứu con người khỏi mất linh hồn, cứu con người khỏi sa hoả ngục.
Việc cứu khổ là cấp bách, đòi nhiều hy sinh. Chỉ có tình yêu mới cứu được. Tình yêu cứu độ là Chúa Giêsu. Các mục tử phải được đào tạo kỹ, để có tình yêu cứu độ từ Chúa Giêsu.
11.
Qua những gì Đức Thánh Cha dạy về đào tạo, tôi thấy cần xem xét lại việc đào tạo môn đệ Chúa tại Việt Nam hôm nay. Nhiều nơi, học nhiều mà đào tạo thì ít. Có nơi đào tạo chỉ là học thuộc mà thôi.Điều tôi cho là còn thiếu ở nhiều nơi đào tạo là đời sống thiêng liêng. Nhiều người đào tạo cũng nghèo đời sống thiêng liêng.
Ít là chúng ta khiêm tốn nhận thức được là đào tạo nơi chúng ta còn thiếu sót nhiều, thì đó cũng là một khởi đầu tốt.
Đêm 27-6 vừa qua, lúc 3 giờ 30, tôi mở đài truyền hình, chợt thấy một phim đang nói về các tôn giáo lớn ở Việt Nam.
Riêng về Phật giáo, phim chiếu cảnh chùa chiền đào tạo các thanh thiếu niên về đời sống đạo, đặc biệt là về mặt linh thiêng. Điều làm tôi chú ý nhất là các thanh thiếu niên được hướng dẫn và tập luyện một cách tỉ mỉ về lối sống tu thân, từ cách ăn mặc, đến việc ăn uống, đi đứng, nói năng, chay tịnh, khó nghèo, thinh lặng, từ bỏ mình, cầu nguyện, và phục vụ người khác.
Cảnh đào tạo đó gợi ý nhiều cho tôi về việc đào tạo các mục tử mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói về Công giáo.
Phải chăng Chúa muốn chúng ta hãy nhìn sang các tôn giáo bạn tại Việt Nam hôm nay, để càng phải mau chấn chỉnh lại việc đào tạo mình.
Long Xuyên, ngày 01 tháng 7 năm 2013



CHÚT TÂM TÌNH NHÂN KỶ NIỆM THỤ PHONG LINH MỤC

GM. GB. Bùi Tuần

1.
Ngày 02.7.2013 này, tôi được 58 tuổi Linh mục. Kỷ niệm thụ phong linh mục thúc giục tôi tỏ bày tấm lòng biết ơn đối với Chúa.
Tôi biết ơn Chúa, nhất là vì suốt 58 năm qua, Chúa luôn ở trong tôi và luôn ở trong cuộc đời của tôi. Tôi nhận ra hồng ân đó, nhờ những dấu ấn ghi trên đời tôi.
Thực vậy, Chúa đã ban cho tôi vô vàn ơn, tôi chỉ xin được nhắc qua mấy ơn sau đây.
2.
Tôi nhận thấy rất rõ, tôi chỉ là kẻ tội lỗi, yếu hèn. Tôi mang trong mình tội riêng của mình, thêm vào đó là tội chung của những tập thể và những cơ chế mà tôi là thành phần.
Tôi rất cần được cứu.
3.
Tôi cảm thấy rất rõ những khổ đau của phần đông đồng bào tôi. Họ khổ, tôi cũng khổ. Họ đau, tôi cũng đau. Có thể tôi còn khổ đau hơn họ, vì tôi thấy họ không nhận thức đủ những nguy hiểm đang vây hãm họ, và những khống chế đang đẩy họ vào hố diệt vong.
Họ rất cần được cứu.
4.
Tôi cảm thấy rất rõ những sai lầm của Hội Thánh về mặt cơ chế và về mặt nhân loại trong nhiều thành phần. Những sai lầm đó nhiều khi đã trở thành khuôn cứng nhắc, cản sự đổi mới của Chúa.
Hội Thánh rất cần được cứu.
5.
Tôi tin chắc chắn điều này: Đấng cứu độ chính là Chúa Giêsu, Người cứu bằng tình yêu của Người. Một tình yêu chấp nhận hoà mình vào thân phận khổ đau của những người đau khổ nhất. Một tình yêu tha thứ. Một tình yêu hy sinh, hiến dâng chính mình chịu mọi nhục nhã đớn đau, để đền tội thay, để cứu chuộc nhân loại.
6.
Tôi tin vững vàng: Chúa Giêsu cứu chuộc chúng ta, nhưng chúng ta cần phải đón nhận ơn Người cứu chuộc.
Chúng ta đón nhận được ơn Chúa cứu chuộc, nhờ tin ở Người và bước theo Người.
7.
Bước theo Chúa Giêsu, tôi thấy 58 năm qua, Chúa đã dạy tôi không những bằng Kinh Thánh và gương các thánh, mà còn dạy tôi qua các biến cố xảy ra cho riêng tôi, nhất là xảy ra cho Quê Hương Việt Nam, và cho Hội Thánh trên Quê Hương của tôi.
Quá nhiều biến cố chứng minh những gì không xây dựng trên Lời Chúa đều đã sụp đổ tan tành.
Quá nhiều biến cố đã chứng minh những ai không đón nhận tình yêu Chúa đều đã sa vào lưới của Satan độc ác.
8.
Bước theo Chúa Giêsu, tôi thấy tôi không tránh được nhiều quãng đời khó khăn hiểm trở. Nhưng Chúa vẫn bên cạnh tôi, như Người đã bên cạnh hai môn đệ Chúa trên đường Emmau (x. Lc 24,13-35).
9.
Bước theo Chúa Giêsu, tôi thấy tôi thực sự được bình an và tự do, khi tôi theo gương Người, mà tha thứ. “Lạy Cha, xin Cha tha cho họ, vì họ lầm không biết việc họ làm” (Lc 23,34).

10.
Bước theo Chúa Giêsu, tôi thấy tôi thực sự được hiện diện giữa những người bị loại trừ, khi tôi giống như Người, bị đóng đinh giữa hai phạm nhân bị án tử hình (x. Lc, 23,33).
11.
Bước theo Chúa Giêsu, tôi thấy Chúa chỉ muốn tôi lo mến Chúa hết lòng, và yêu thương mọi người, như Chúa yêu thương, rồi phó thác mình cho Chúa “Lạy Cha, con xin phó thác mình con trong tay Cha” (Lc 23,46). Chứ mến Chúa và thương người, mà lại khôn khéo quy chiếu mọi việc mình làm về việc lên chức, giữ chức, bảo vệ quyền lợi cho mình, thì đúng là trái tim đã chết từ lâu rồi.
12.
Bước theo Chúa Giêsu, tôi thấy lịch sử Đất Nước tôi và lịch sử Hội Thánh trên Đất Nước tôi, tuy dù có những bóng tối, nhưng vẫn có những luồng sáng hy vọng.
Bởi vì vẫn có những người biết nhận ra sự cần thiết phải đổi mới bản thân và cơ chế. Đổi mới dựa trên nền tảng tình yêu. Đổi mới với sự trở về những giá trị thiêng liêng. Đổi mới bằng những việc bắt đầu và bắt đầu lại. Đổi mới nhất là bằng sự chấp nhận mầu nhiệm thánh giá: Qua thánh giá mới có Phục Sinh.
13.
Hôm nay, nhìn lại 58 năm bước theo Chúa Giêsu, tôi thấy tôi mắc nợ với Chúa, mắc nợ với Quê Hương của tôi, mắc nợ với Hội Thánh của tôi, mắc nợ với biết bao ân nhân xa gần.
Có những nợ sẽ chẳng bao giờ trả đủ. Đó là nợ tình thương. Nhưng chính vì không bao giờ sẽ trả đủ, nên càng thêm gắn bó. Gắn bó ở đời này và ở đời sau. Trong thinh lặng lắng nghe. Trong thinh lặng cầu nguyện. Trong thinh lặng hiến dâng.
Long Xuyên, ngày 01 tháng 7 năm 2013


CHA ƠI! SAO CHA NỠ BỎ CON

GM. GB. Bùi Tuần
1.
Nhiều năm trước đây, khi cầu nguyện trước Trái Tim Chúa Giêsu và Trái tim Đức Mẹ, tôi thường nhìn Hai Trái Tim cực thánh ấy như suối nguồn tình yêu. Tôi tin tình yêu ấy rất ngọt ngào, dịu dàng. Tôi cầu xin Hai Trái Tim cực thánh ban cho tôi chút quà của tình yêu ấy. Kết quả là tôi đã nhiều lần được nếm sự ngọt ngào, dịu dàng của tình yêu ấy.
2.
Nhưng rồi, không luôn mãi như vậy. Bởi vì, càng về già, tôi càng được Hai Trái Tim cực thánh ban cho tôi thêm một thứ quà khác của tình yêu, đó là những đau khổ, để thanh luyện.
Đúng là tôi vẫn đến với Hai Trái Tim rất thương mến, mà tôi cậy tin. Tôi cầu xin tha thiết. Nhưng như một trả lời, có lúc tôi lại nhận được một nguồn đớn đau tê tái.
Nỗi đau như một cái gì cùng cực. Nếu muốn tả nỗi đau ấy, tôi chỉ xin mượn Phúc Âm.
Trong vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu nói: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” (Mc 14,34).
“Người lâm cơn xao xuyến bồi hồi, nên càng khẩn thiết cầu xin. Và mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất” (Lc 22,44).
“Người sấp mặt xuống đất, cầu nguyện rằng: Cha ơi, nếu được, xin Cha cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39).
“Vào giờ thứ 9, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: Êlôi, Êlôi, Lamaxabactani! Nghĩa là: Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Cha nỡ bỏ con” (Lc 15,34).
3.
Như vậy, Thánh Tâm Chúa Giêsu, vì yêu thương, đã chấp nhận trải qua những cơn đau khủng khiếp. Thánh Tâm đầy lửa yêu thương đã trở thành vực thẳm đầy đau khổ. Những đau khổ đó rất nặng nề. Tôi được cảm thấy phần nào.
Chúa cho tôi hiểu thế này.
Nguyên do khiến tình yêu Chúa Giêsu phải đau khổ là vì:
Người nhìn thấy con cái Chúa không chịu nghe Lời Chúa, mà lại nghe ma quỷ, thế gian, xác thịt.
Nghe theo chúng làm những sự xấu, để rồi bị chúng trói buộc vào quyền lực độc ác của chúng dẫn vào con đường hư hỏng, đi vào hoả ngục.
Để cứu loài người, Chúa Giêsu tình nguyện chịu đau khổ, để đền tội thay. Đau khổ rất nhiều, nhưng biết bao người rồi vẫn cứ tiếp tục phạm tội, cứ tiếp tục nghe quỷ, thế gian, xác thịt hơn nghe Chúa. Cứ vậy, tội lỗi dẫn vào mọi thứ hình phạt ở đời này và ở đời sau. Cảnh tượng đó rất là thê thảm, khiến Chúa Giêsu đau đớn.
4.
Để tiếp tục cứu loài người lầm lạc, Chúa Giêsu không những xin gánh mọi hình phạt của loài người, để đền tội thay, mà cũng xin nhiều con cái Chúa hãy chia sẻ với Người. Đức Mẹ đã chia sẻ một cách quảng đại. Nhiều người, cũng đi theo gương Đức Mẹ. Nay, đến lượt một số người, trong đó có tôi đang được Chúa gọi đi theo trên con đường chia sẻ khổ đau.
5.
Khi được nếm phần nào nỗi khổ của Trái Tim Chúa, tôi hiểu rõ hơn những tai hại khủng khiếp do tội gây nên, nhất là tội không chịu nghe Lời Chúa. Hiện nay, tội không nghe Lời Chúa đang trở thành phổ biến khắp nơi. Nếu cứ thế này, những tai hoạ khủng khiếp sẽ phải xảy ra. Nguy hiểm đáng sợ nhất là hình phạt ở đời sau.
Tôi nhớ tới những gì Đức Mẹ đã tiên báo ở Fatima. Tôi nhớ tới cảnh Đức Mẹ hiện ra khóc ở La Salette. Tôi xin Đức Mẹ thương giúp tôi biết đón nhận những đau khổ, để góp phần nhỏ bé vào việc đền tội riêng mình và nhiều người khác, hy vọng sẽ tránh cho Hội Thánh và Đất Nước khỏi những tai hoạ khủng khiếp.
6.
Đau khổ thường gây nên tan nát và cô đơn trong lòng. Nhưng tôi tin trong đau khổ của tình yêu luôn có Chúa. Chúa ở đó, để đỡ nâng. Nhất là Người đỡ nâng lòng cậy trông của tôi. Cậy trông vững vàng. Cậy trông dù hoàn cảnh trở thành bi đát nhất. Cậy trông, để đau khổ tôi chịu có một ý nghĩa thiêng liêng cao quý.
7.
Tôi có kinh nghiệm là khi tôi bị thử thách trong đau khổ, Đức Mẹ luôn ở bên tôi. Mỗi khi tôi than van với Chúa: “Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con”, tôi lại thấy Đức Mẹ ôm lấy tôi. Tình Mẹ biến lời than van của tôi thành một lời cầu nguyện. Tôi như một trẻ nhỏ. Với Mẹ, tôi tin mọi sự rồi sẽ tốt đẹp quá sự tưởng tượng của tôi. Bởi vì Chúa là Cha của tôi. Tôi nhớ tới mầu nhiệm thánh giá dẫn tới Phục sinh.
Do vậy, tôi thấy đau khổ hôm nay không là tiếng nói sau cùng. Tiếng nói sau cùng sẽ là sự sống lại.
Tôi cũng thấy sự thắng thế của tội ác không là tiếng nói sau cùng. Tiếng nói sau cùng sẽ là tiếng nói của tình yêu thương xót Chúa.
Thấy như vậy và tin như vậy, tôi sẽ có một hướng đi thích hợp cho tu đức, mục vụ, nhất là trong lãnh vực làm chứng cho Chúa.
8.
Khi cầu nguyện, tôi hay thấy Chúa Giêsu quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Người rất khiêm nhường. Người rất yêu thương. Người rất gần gũi. Tôi cảm thấy Người rửa, Người lau cõi lòng của tôi. Tôi cảm thấy nhẹ nhàng, đầy tin tưởng cậy trông, mặc dầu tôi rất tội lỗi.
Cùng với lòng tin tưởng cậy trông, tôi được Đức Mẹ dạy tôi là hãy rất nghèo, thực sự nghèo, trong mọi phương diện. Có thế, mới thực sự được thuộc về Chúa Giêsu. Có thế, mới thực sự được Chúa Giêsu dùng trong chương trình cứu chuộc của Chúa.
Nghèo thì khổ. Nghèo thì hèn. Cái khổ và cái hèn của kẻ nghèo khổ đau được tôi cảm thấy một cách thấm thía, như một sự loại trừ, xa tránh. Tôi biết tôi đáng bị như thế. Nhưng tại sao thân phận như thế lại đã xảy ra cho chính Chúa Giêsu xưa? Tôi hiểu con đường Chúa đi, để cứu chuộc loài người, làcon đường thánh giá. Tôi xin Chúa cầm tay tôi mà dắt dìu tôi đi theo con đường đó.
Lạy Chúa, con đường thánh giá của Hội Thánh tại Quê Hương con sắp tới những chặng bất ngờ. Con tin những đau đớn bất ngờ sẽ làm chúng con thức tỉnh biết nghe Lời Chúa hơn. Xin Chúa thương xót chúng con.
Long Xuyên, ngày 9 tháng 6 năm 2013





Thứ sáu, ngày 28 tháng sáu năm 2013

MỘT NỘI TÂM DỒI DÀO SỰ SỐNG THIÊNG LIÊNG

Bài chia sẻ trong thánh lễ
kính Sinh nhật thánh Gioan Baotixita
1.
Thánh Gioan Baotixita là tiên tri của Chúa.
Sứ vụ tiên tri của thánh Gioan Baotixita là một hành trình dài. Hành trình dài đó gồm nhiều chặng khác nhau. Tất cả đều đầy khó khăn, hiểm trở.
Nhưng thánh Gioan Baotixita đã vượt qua một cách lạ lùng, nhờ một bí quyết, đó là Ngài có một nội tâm dồi dào sự sống thiêng liêng.
2.
Thực vậy, nội tâm của thánh Gioan Baotixita là một đền thờ toả sáng sức thiêng.
Toả sáng thứ nhất là sự khiêm nhường. Thánh Gioan Baotixita sống khó nghèo, xưng mình chỉ là tiếng kêu trong sa mạc, không xứng đáng cởi dây giày cho Chúa Giêsu. Khiêm nhường của thánh Gioan Baotixita báo trước khiêm nhường của Chúa Giêsu, Đấng sẽ mời gọi: “Các con hãy học ở Thầy, vì Thầy hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11,29).
3.
Toả sáng thứ hai là yêu thương. Thánh Gioan Baotixita yêu thương mọi người, muốn cứu các linh hồn không những bằng lời cầu nguyện và lời giảng, mà cũng bằng chính đời sống hãm mình, hy sinh đến cùng. Yêu thương của thánh Gioan Baotixita loan báo trước yêu thương của Chúa Giêsu, Đấng sẽ ban tặng chính mình trên thánh giá để cứu chuộc loài người (x. Ga 12,32).
4.
Khiêm nhường và yêu thương nơi nội tâm thánh Gioan Baotixita được sáng lên, là do nội tâm của Ngài luôn có sự hiện diện của Chúa. Chúa ngự trong nội tâm thánh Gioan Baotixita, để chia sẻ cho Ngài sự sống của Chúa và tâm tình của Chúa.
Chúa ở lại trong nội tâm thánh Gioan Baotixita, và thực hiện điều Chúa Giêsu sau này sẽ nói: “Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái” (Ga 15,5).
5.
Anh chị em thân mến,
Thánh Gioan Baotixita là như thế. Còn chúng ta thì sao? Chúng ta có nội tâm dồi dào sự sống thiêng liêng, và có Chúa hiện diện ở đó không?
Tôi hỏi Chúa, và Chúa cho tôi thấy là: Ai cũng có nội tâm, nhưng không phải nội tâm nào cũng có sự sống thiêng liêng, càng không phải nội tâm nào cũng có Chúa hiện diện.
Đó là một sự thức đáng buồn, đáng ngại, rất nguy hiểm. Nhất là tình hình hiện nay đang xấu đi, do đạo đức xuống và tội lỗi tăng, tai hoạ Chúa và Đức Mẹ cảnh báo đang tới gần.
Nguy hiểm nhất là chúng ta không để ý đủ đến việc cứu khổ tức là cứu con người khỏi nguy cơ mất linh hồn, nguy cơ sa hoả ngục. Những nguy cơ đó là gần kề. Phải cứu với tất cả tình yêu của Chúa Giêsu. Phải cấp cứu với một tình yêu của thánh Gioan Baotixita. Tình yêu tha thiết, tình yêu dám chết cho các linh hồn. Vì thiếu một nội tâm có Chúa Giêsu hiện diện, chúng ta dễ bị quỷ Satan lừa dối, ở giữa nguy cơ mất linh hồn, mà không nghĩ đến việc cần được cấp cứu.
Riêng tôi, trước khi ra đi, tôi xin nói với anh chị em một lời rất chân tình, đó là: Có một nội tâm dồi dào sự sống thiêng liêng do Chúa hiện diện, chúng ta sẽ vượt qua được cuộc đời giông bão đầy bất ngờ đau đớn đang tới, để chắc chắn có ngày sẽ được về với Chúa là hạnh phúc trường sinh của chúng ta. Amen.
GM. GB. Bùi Tuần
Long Xuyên, ngày 24 tháng 6 năm 2013







GƯƠNG THÁNH GIOAN BAOTIXITA CHO VIỆT NAM HÔM NAY

1.
Từ lâu rồi, tôi tha thiết cầu xin Chúa soi sáng cho tôi biết, Chúa muốn các môn đệ Chúa cần bắt chước thánh Gioan Baotixita thế nào tại Việt Nam hôm nay.
Chúa soi sáng cho tôi dần dần. Có thể là tôi chưa đón nhận hết những gì Chúa đã dạy tôi. Hôm nay, tôi xin được phép chia sẻ phần nào. Vắn gọn thôi.
2.
Thứ nhất, bắt chước thánh Gioan Baotixita, là đặt nặng vấn đề tu thân.
Tu thân nơi thánh Gioan Baotixita là ưa thích thinh lặng nội tâm, cầu nguyện, chiêm niệm, nghèo khó, khiêm nhường, yêu thương. Gặp thánh Gioan Baotixita dù trực tiếp, dù gián tiếp, bất cứ cách nào, người ta đều thấy ngay những nét tu thân nơi Ngài là rất ấn tượng. Những nét tu thân ấy toả ra một bầu khí thiêng liêng quý hiếm. Chúa dùng những nét tu thân như thế của thánh Gioan Baotixita để nói với các tâm hồn thời đó.
Thời nay, nhiều tâm hồn Việt Nam cũng đã nghe được tiếng Chúa qua những nét tu thân đậm đà của những ai tu thân theo gương thánh Gioan Baotixita.
Chính vì thế, mà lúc này nên xem xét kỹ những “ơn gọi” tự nhận là ơn gọi đi tu. Nhất là nên chấn chỉnh lại những nơi tự xưng là “nhà tu”.
Hiện nay, tại Việt Nam, “tu thân” vẫn còn được quý trọng, ngay tại gia đình. Hiện nay “tu thân” đang là một phục hưng quan trọng trong nhiều tôn giáo tại Việt Nam.
Còn Công giáo thì sao? Xem ra ở nhiều nơi tinh thần trần thế đang tục hoá đời tu, người tu và nhà tu. Tai hại sẽ khôn lường, nếu coi đó là một đổi mới được phép coi là bình thường.
3.
Thứ hai, bắt chước thánh Gioan Baotixita là cảnh báo tình hình thực sự nguy hiểm.
Thánh Gioan Baotixita nói thực, nói rõ, nói mạnh về tình hình tội lỗi bấy giờ rất nguy hiểm. Ngài nói:“Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy?... Cái rìu đã đặt sát gốc cây: Bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa” (Mt 3,7-10).
Cảnh báo tình hình là rất nguy hiểm về mặt thiếu đạo đức, đó là việc thánh Gioan Baotixita đã làm cho những người tin thờ Chúa, những người tự phụ có tổ phụ Abraham (x. Mt 3,9). Thời ấy, nhiều người có đạo đã được ơn trở lại, nhờ cảnh báo của thánh Gioan Baotixita.
4.
Còn thời nay, tại Việt Nam, xem ra vẫn thiếu những lời cảnh báo mạnh dạn và thành thực như của thánh Gioan Baotixita. Thay vì cho thấy tình hình là nguy hiểm, thì lại quả quyết tình hình là tốt đẹp, không sao. Hoặc có cho thấy tình hình là nguy hiểm, nhưng lại đổ lỗi cho những nguyên nhân ngoài Công giáo, chứ Công giáo thì trong sạch, vô can. Chính sự không nhận ra mình tội lỗi mới thực là cực kỳ nguy hiểm.
5.
Thứ ba, bắt chước thánh Gioan Baotixita là phải thực tình sám hối.
Sám hối theo thánh Gioan Baotixita là bỏ đàng tội, đền bù những gì tội lỗi mình đã gây ra, và hãy sinh ra hoa quả tốt. Ngài nhấn mạnh đến việc sinh hoa quả tốt. “Các anh hãy sinh những hoa quả xứng với lòng sám hối” (Lc 3,8). Nghĩa là bỏ tội lỗi thì chưa đủ, mà còn phải làm việc lành. Việc lành mà thánh Gioan Baotixita chỉ rõ, đó là sửa lại những liên đới với mọi người (x. Lc 3,10-14).
6.
Sám hối, mà thánh Gioan Baotixita rao giảng xưa là thế. Nay, chúng ta có nhận thức đúng như vậy không? Nhất là nhận thức về sự phải sửa lại những liên đới với mọi người. Sửa lại mọi liên đới là sao cho có công bình, bác ái, khiêm nhường trong mọi đối xử.
Tôi rất buồn và cũng rất lo, khi thấy sự sám hối mà thánh Gioan Baotixita rao giảng xưa, xem ra không được đón nhận một cách trân trọng tại Việt Nam hôm nay. Thực sự, có nói tới sám hối và cũng có làm việc sám hối. Nhưng sám hối theo nghi thức nhiều hơn là sám hối thực sự, mà Chúa muốn.
7.
Thứ bốn, bắt chước thánh Gioan Baotixita là tin nhận và đón nhận Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế.
Thánh Gioan Baotixita cảnh bảo tình hình là rất nguy hiểm, con cái Chúa cần phải sám hối, sau cùng phải tin nhận và đón nhận Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế.
“Hôm sau, ông Gioan thấy Đức Giêsu tiến về phía mình, liền nói: ‘Đây là Chiên Thiên Chúa, là Đấng xoá tội trần gian’” (Ga 1,29).
Ngài xin mọi người đừng nhìn vào Ngài nữa, nhưng hãy tập trung vào Đức Giêsu: “Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi” (Ga 3,30).
8.
Tập trung vào Chúa Giêsu là phải cất đi bất cứ cái gì là rào cản, là màn che. Nhất là phải khiêm tốn tự mình lu mờ đi, để người ta dễ nhìn thấy Chúa Giêsu, dễ gặp được Người, dễ đón nhận Người.
Nhận thức điều thánh Gioan Baotixita dạy trên đây, tôi thấy mình cần phải rất tỉnh thức và khiêm nhường, nhất là phải mở rộng lòng tôi ra, để ơn Chúa Thánh Thần thanh luyện lòng tôi cho khỏi các thứ rắc rối.
Rắc rối là một thứ bệnh, xem ra của mọi người. Rắc rối là thích làm cho những gì đơn sơ thành phức tạp để rồi tìm cách tránh né điều căn bản cần thiết. Nhất là thích phức tạp để núp đàng sau những bức tường đạo đức này nọ, khỏi nhìn thấy chính Chúa Giêsu, vì sợ Người đòi hỏi nhiều điều người ta tự nhiên không thích.
9.
Thứ năm, bắt chước thánh Gioan Baotixita là vâng phục ơn gọi thực sự là do Chúa.
Thánh Gioan Baotixita được Chúa gọi thực sự. Ơn gọi của Ngài được chứng minh rõ rệt qua những gì đã xảy ra cho ông Dacaria và vợ là bà Êlisabét (x. Lc 1,5-25). Ngài không tự mình xin ơn gọi đó. Ngài càng không bao giờ vận động cho mình được làm ngôn sứ của Chúa.
Ngài được gọi và được sai đi hoàn toàn do Chúa chủ động. Còn Ngài thì xin vâng một cách khiêm nhường phó thác.
Khiêm nhường phó thác suốt cuộc đời, trong mọi nơi mọi lúc. Nhờ vậy, Ngài nhận ra vinh quang của ơn gọi Chúa ban cho Ngài chính là được chết khổ đau, loan báo trước chính cái chết của Chúa Giêsu, Đấng Cứu chuộc loài người.
10.
Nói thiệt là điểm thứ năm vừa trình bày trên đây đã làm tôi suy nghĩ rất nhiều. Càng suy nghĩ, tôi càng thấy mình nhỏ bé. Với tinh thần thơ ấu Phúc Âm, tôi xin Chúa thương dìu dắt tôi trên mọi chặng đường của cuộc đời tôi. Cho dù tôi chưa cảm được vinh quang của ơn gọi Chúa dành cho tôi sẽ là những thánh giá như thánh Gioan Baotixita, và như Chúa Giêsu, nhưng tôi vẫn tin với lòng phó thác ở tình yêu Chúa, Đấng đã gọi tôi và đã sai tôi đi.
Lạy Chúa, nhờ lời cầu bầu của thánh Gioan Baotixita, xin thương xót con. Con tin ở Chúa. Con cảm tạ Chúa. Con thuộc về Chúa.
GM. GB. Bùi Tuần
Long Xuyên, ngày 17 tháng 6 năm 2013







Thứ bảy, ngày 25 tháng năm năm 2013

CHỈ VÀI BƯỚC THÔI

    1.
Đọc Phúc Âm, tôi thấy nhiều khi số phận khốn khổ đời đời được định đoạt từ những thái độ vô tâm coi như bình thường.
Đáng suy nghĩ nhất là trường hợp “ông nhà giàu” kể trong Phúc Âm thánh Luca.
“Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người nghèo khó, tên là Ladarô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta.
Thế rồi, người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Apraham. Ông nhà giàu cũng chết và người ta đem chôn.
Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông nhà giàu ngước mắt lên thấy tổ phụ Apraham ở tận đàng xa, và thấy anh Ladarô trong lòng tổ phụ. Bấy giờ ông ta kêu lên: Lạy tổ phụ Apraham, xin thương xót con, và sai anh Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát, vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm. Ông Araham đáp: Con ơi, hãy nhớ lại: Suốt đời con đã nhận phần phước của con rồi, còn Ladarô bất hạnh. Bây giờ, Ladarô được an ủi nơi đây, còn con, thì phải chịu khốn khổ. Hơn nữa, giữa chúng ta đây và con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên con cũng không được, mà bên đó qua bên chúng ta cũng không được” (Lc 16,19-26).
2.
Tôi thấy từ nhà ông phú hộ đến chỗ ông ăn mày Ladarô chỉ khoảng vài bước, nghĩa là cách nhau chỉ có cái cổng. Khi sống, ông phú hộ đã không chịu bước vài bước đó, để cảm thương và cứu khổ cho người hành khất Ladarô luôn nằm đó. Hậu quả là khi chết rồi, người phú hộ đó đã phải ném vào vực sâu hoả ngục, xa cách thiên đàng cao sang vời vời.
Vài bước vô tâm đã đưa tới cực hình vô tận.
3.
Dụ ngôn trên đây khiến tôi thực sự lo ngại cho một số trường hợp giàu nghèo đang xảy ra tại Hội Thánh Việt Nam hôm nay.
Hưởng thụ một cách quá vật chất như ông phú hộ mặc lụa là gấm vóc, yến tiệc linh đình hằng ngày thì không có. Nhưng hưởng thụ một cách tinh vi dựa vào những phát triển vật chất khoác áo đạo đức, thì có.
Hưởng thụ kiểu đó, nếu lại quên cứu khổ những người nghèo túng khổ đau bên cạnh mình, thì thiết tưởng sẽ khó chối được mình cũng giống phần nào người phú hộ vô phúc đó.
4.
Chỉ vài bước thôi, thế mà nhiều khi chúng ta không muốn bước ra khỏi ranh giới cộng đoàn tôn giáo chúng ta, để tìm đến những người nghèo túng khổ đau ngay cạnh nhà chúng ta.
Người nghèo hiện nay rất đông. Họ thuộc nhiều thứ nghèo. Họ là địa chỉ, mà Chúa muốn chúng ta tới. Nhưng chúng ta không chịu tới, tuy chỉ vài bước thôi. Lý do là vì chúng ta ích kỷ, trong tư thế chỉ muốn phát triển nội bộ, cố tình quên đi những liên đới với dân chúng xung quanh, nhất là với những người nghèo khổ kề bên.
5.
Vượt qua được khoảng cách chỉ vài bước nhiều khi cũng là một thách đố quan trọng. Cũng may là thách đố quan trọng đó đang được nhiều người công giáo tại Việt Nam giải quyết tốt đẹp.
Với đức tin dạt dào yêu thương, họ vượt qua khoảng cách vài bước rất khó khăn, để xây dựng những liên đới tốt với những người trong gia đình, với hàng xóm, với những người cùng cơ quan.
Khoảng cách chỉ vài bước. Bước tâm lý, chứ không phải bước thân xác. Những bước tâm lý ấy cực kỳ là khó. Nhưng họ đã bước được khoảng cách vài bước cực kỳ khó khăn ấy. Nhờ ơn Chúa.
Họ không phải là những nhà phú hộ. Nhưng là những người thường. Họ siêng năng cầu nguyện và sống phần nào chiêm niệm. Họ âm thầm, khiêm tốn, gắn bó với Hội Thánh, qua các vị hướng dẫn có ơn phân định.
Chỉ vài bước thôi, họ thích sống bé nhỏ, và làm những việc bé nhỏ. Nhưng mỗi bước âm thầm của họ đều mang lửa và hy vọng.
6.
Tuy nhiên, kinh nghiệm đạo đức cho thấy: Bất cứ điều gì tốt đều bị ác thần cản phá, cũng như bất cứ điều gì xấu đều được nó khuyến khích.
Dụ ngôn người Samari tốt lành cho thấy sự thực đó.
Chúa Giêsu nói: “Một người từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia đường mà đi. Rồi cũng thế, một thầy Lêvai tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia đường mà đi” (Lc 10,30-32).
Dụ ngôn cho thấy: Cũng chỉ vài bước thôi, thầy tư tế và thầy Lêvi đã tránh sang bên kia đường, để khỏi cứu nạn nhân. Lý do họ vịn vào để tránh cứu nạn nhân, có thể là vì quá bận với những công tác tôn giáo ở nhà, hoặc vì không rõ lý lịch nạn nhân. Và họ an tâm. Nhưng Chúa Giêsu coi đó là một an tâm xấu, có thể là một tội đáng phải phạt.
7.
Với những gì về “chỉ vài bước” trên đây đang đặt ra cho tôi một vấn đề lương tâm:
Nếu chỉ với vài bước thôi, tôi đã có thể cứu được một người cả xác cả hồn, thế mà tôi không làm, thì liệu tôi có thể tránh được án phạt nặng nề Chúa nói trong Phúc Âm không?
Nếu chỉ với vài bước thôi, một số cá nhân và tổ chức công giáo có thể giúp Hội Thánh Việt Nam trở thành một Hội Thánh sống nghèo, lo cho người nghèo, nhưng họ đã không chịu bước, thì trách nhiệm của họ trước Chúa sẽ ra sao?
Họ không giúp Hội Thánh trở thành một Hội Thánh sống nghèo và lo cho người nghèo, là vì chính họ sống như một giai cấp giàu sang quyền lực một cách tự hào và khiêu khích, ngay giữa đám đông dân nghèo, lầm than, thiếu thốn. Tự hào và khiêu khích với não trạng thắng thế lại được cho là để làm sáng danh đạo Chúa. Đó là một vấn đề có thực rất cần được cảnh giác.
Lạy Chúa, xin thương giúp con luôn biết mau lẹ thực hiện những bước cứu con người. Con xác tín đó chính là dấu chỉ tốt làm chứng cho đức tin tại Việt Nam hôm nay. Con cũng rất xác tín những bước thực sự cứu con người theo ý Chúa sẽ chỉ được thực hiện đúng là nhờ Chúa, với Chúa và trong Chúa.
Lạy Chúa, xin bảo toàn con, vì con trông cậy ở Chúa.

Chủ Nhật, 22 tháng 12, 2013


CỦA LỄ TÔI DÂNG LÊN CHÚA


1.
Kỷ niệm Chúa Giáng Sinh là một lễ lớn. Lễ trọng này bao giờ cũng gởi vào lòng tôi những món quà. Quà thuộc nhiều thứ. Nhưng quà mà tôi quý trọng nhất, chính là sự bình an.
Thời nào bình an cũng quý. Nhưng thời nay, bình an càng rất quý. Bởi vì nó rất cần và cũng rất hiếm. Riêng đối với tôi, bình an còn là một phép lành đặc biệt của Chúa.
2.
Khi nói “bình an là một phép lành đặc biệt của Chúa”, tôi có ý tách bình an này ra khỏi các thứ bình an khác. Bởi vì có nhiều thứ bình an. Thí dụ bình an do mình được đầy đủ về của cải, địa vị, sức khoẻ, bình an do mình không bị ai quấy rầy, bình an do mình không phải bận tâm lo cho người khác.
Bình an là một phép lành đặc biệt của Chúa, tức là thứ bình an, mà Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ trong bữa Tiệc Ly: “Thầy để lại bình an cho anh em. Thầy ban cho anh em sự bình an của Thầy, Thầy ban cho anh em sự bình an không như sự bình an mà thế gian ban tặng” (Ga 14,37).
Bình an mà Chúa vừa nói đã được tuyên bố trong đêm Chúa Giáng Sinh tại Bêlem xưa: “Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng:
Vinh danh Thiên Chúa trên trời
Bình an dưới thế cho người thiện tâm” (Lc 2,13-14).
Như vậy, bình an như một phép lành của Chúa được hiểu là bình an Chúa ban cho những người thiện tâm.
3.
Những người thiện tâm, mà ca đoàn các thiên thần ca ngợi đêm Chúa Giáng Sinh, chính là những người tin vào Lời Chúa. Họ là Đức Mẹ Maria, thánh Giuse và các mục đồng.
Đức Mẹ Maria đã được sứ thần của Chúa đến báo tin “Bà sẽ được thụ thai, sinh hạ một con trai, do quyền năng Chúa Thánh Thần. Con trẻ sẽ được đặt tên là Giêsu, được gọi là Con Đấng Tối Cao”. Đức Mẹ đã tin và đã thực thi ý Chúa.
Thánh Giuse đã được thiên thần báo mộng cho biết: “Đừng ngại đón Maria về với mình. Vì con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông sẽ đặt tên cho con trẻ là Giêsu. Chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ”. Thánh Giuse đã tin và đã thực thi ý Chúa.
Các mục đồng trong đêm Chúa Giáng Sinh, đã được sứ thần Chúa báo tin vui là: “Một Đấng Cứu Độ đã sinh ra. Người là Đấng Kitô Đức Chúa. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người. Anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã nằm trong máng cỏ”. Các mục đồng đã tin, đã tìm, và đã thấy Chúa Giêsu. Họ đã thực thi ý Chúa.
4.
Đức Mẹ Maria, thánh Giuse và các mục đồng có thể đã đón nhận được nhiều ơn riêng, khi gặp được Chúa Giêsu. Nhưng tất cả đều cảm nhận được sâu sắc ơn chung này, đó là sự bình an đặc biệt.
Sự bình an, mà các Đấng cảm nhận được, là thấy đời mình sẽ được bảo đảm. Cho dù cuộc đời sẽ rất gian nan, nhưng có Đấng Cứu Thế ở với mình, mình sẽ được Người cứu, nhất là cứu khỏi tội, để tới đích sau cùng là về với Thiên Chúa trên trời đầy vinh quang. Bình an đó là một món quà đặc biệt Chúa ban cho các Đấng, những người tin vào Lời Chúa và thực thi Lời Chúa.
5.
Còn tôi thì sao?
Với tâm tình khiêm cung và cảm tạ, tôi xin tuyên xưng điều này: Sự bình an, mà Chúa ban cho tôi như một món quà đặc biệt, được tôi cảm nghiệm là một sức thiêng liêng, khiến tôi nhận biết mình luôn cần được cứu. Đấng cứu tôi chính là Đức Giêsu, Người ở bên tôi, mặc dù tôi hèn hạ, tội lỗi. Người ở bên tôi, để gánh tội cho tôi, để đền tội cho tôi, để xoá tội cho tôi, để kéo tôi ra khỏi tội lỗi. Bình an như thế là luôn được Chúa cứu, luôn được trở về với Chúa, hy vọng chắc chắn sẽ tới thiên đàng.
6.
Sự bình an như thế không có nghĩa là được hưởng an nhàn. Bởi vì thực tế và chính Phúc Âm cũng cho tôi thấy là sự bình an, mà Chúa ban cho tôi, đòi tôi phải phấn đấu rất nhiều. Mang bệnh tật, nghèo khổ, mà không chán nản, nhưng hãy biết biến những đau khổ ấy thành của lễ đền tội. Bị loại trừ xa tránh, mà không oán hận, nhưng hãy dùng khổ cực đó thành cơ hội tha thứ và trả đáp bằng yêu thương. Tôi hiểu phấn đấu cao đẹp nhất, là dám chọn Chúa Giêsu là đường, là sự thật và là sự sống của tôi, mặc dầu gặp cản trở.
Như vậy, phấn đấu là một điều kiện cần của thiện tâm, phấn đấu cũng là một yếu tố cần của sự bình an.
7.
Đến đây, tôi cảm tạ Chúa và xin lỗi Chúa với tất cả tấm lòng khiêm tốn cậy tin.
Tôi cảm tạ Chúa đã ban cho tôi ơn thiện tâm, ơn bình an, và ơn phấn đấu với mức độ theo lòng thương xót Chúa.
Tôi xin lỗi Chúa, vì bao lần tôi đã có những thiếu sót và lầm lỗi trong việc đón nhận và sử dụng ba ơn nói trên.
8.
Tôi cảm nhận rất rõ:
Cuộc đời là một chuyến đi. Chuyến đi cuộc đời thường gặp nhiều trắc trở bất ngờ. Nếu tôi kiêu ngạo chủ quan nghĩ rằng: Tôi không cần đến ba ơn nói trên, hoặc chần chừ tự ái cho rằng mình không vội phải sửa mình, theo ba ơn nói trên, thì tôi sợ là điều gì phải tới sẽ tới, mà không kịp hối cải.
Vì thế, dịp lễ Chúa Giáng Sinh này, tôi xin nói lên một sự thực nên nói: Đó là tình hình đạo đức trong Hội Thánh nói chung, và tại Việt Nam nói riêng đang có nhiều bóng tối.
Có nhiều thiện tâm, nhưng những thiện tâm đích thực vẫn thiếu.
Có nhiều bình an, nhưng những bình an đích thực nay cũng vẫn thiếu.
Có nhiều phấn đấu, nhưng những phấn đấu đích thực vẫn còn rất thiếu.
Tôi cũng như nhiều người khác có thể ở trong danh sách những kẻ thiếu thiện tâm, thiếu bình an và thiếu phấn đấu.
Nhận định như thế đòi một sự khiêm nhường, sám hối, và cậy tin vào lòng thương xót Chúa. Đó là một hy vọng tốt, một niềm vui tốt.
9.
Với niềm hy vọng và niềm vui Phúc Âm, tôi bước sang năm 2014 với một quyết tâm mới, đó là sẽ dấn thân hơn.
Dấn thân hơn vào một cuộc sống hy sinh quên mình vì yêu thương theo gương Chúa Giáng Sinh.
Dấn thân hơn vào một cuộc sống giản dị, gần gũi và hoà mình  với những thân phận bé mọn, túng nghèo, như Thánh Gia tại Belem đối với các mục đồng.
Dấn thân hơn vào một cuộc sống làm chứng cho tình yêu thương xót Chúa bằng chính việc làm và cách sống hơn là bằng lời nói.
10.
Với tất cả tấm lòng yêu mến, tôi xin đem những suy nghĩ trên đây dâng lên Chúa, coi đó là một của lễ nghèo của người con bé nhỏ.
Dựa trên của lễ trên đây dâng lên Chúa, tôi xin chân thành gởi tới mọi người gần xa lời chúc tỉnh thức Phúc Âm, để có thể nghe được và đón nhận được lời chúc của ca đoàn thiên thần: “Bình an dưới thế cho người thiện tâm”, nhất là để gặp được Chúa Giêsu đang đến với chúng ta.
 Cũng dựa trên của lễ trên đây, tôi thành khẩn xin mọi người hãy cầu chúc cho Đức Thánh Cha Phanxicô một niềm vui Phúc Âm luôn mới, để đổi mới Hội Thánh một cách có hiệu quả trong giai đoạn đầy khó khăn này. Đức Thánh Cha nói nhiều đến người nghèo, và muốn Hội Thánh phải là Hội Thánh sống nghèo theo tinh thần Chúa Giáng Sinh. Tôi sợ cho Đức Thánh Cha. Nhưng tôi tin Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ là ngôi sao đêm Giáng Sinh dẫn đường cho nhiều người đến được với Chúa Giêsu.
                                                                                                                                   GB. Bùi Tuần

Long Xuyên, ngày 8 tháng 12 năm 2013.

Thứ Ba, 10 tháng 12, 2013

THẦY CÓ THẬT LÀ ĐẤNG PHẢI ĐẾN KHÔNG?

HỌC HỎI VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA
CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG NĂM A
MÁT-THÊU 11, 2-11:
THẦY CÓ THẬT LÀ ĐẤNG PHẢI ĐẾN KHÔNG?
2 Đang ngồi tù, ông Gio-an nghe biết những việc Đức Ki-tô làm, liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng : 3 "Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác ?" 4 Đức Giê-su trả lời : "Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe : 5 Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng, 6 và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi."
7 Họ đi rồi, Đức Giê-su bắt đầu nói với đám đông về ông Gio-an rằng: "Anh em ra xem gì trong hoang địa ? Một cây sậy phất phơ trước gió chăng ? 8 Thế thì anh em ra xem gì ? Một người mặc gấm vóc lụa là chăng ? Kìa những kẻ mặc gấm vóc lụa là thì ở trong cung điện nhà vua. 9 Thế thì anh em ra xem gì ? Một vị ngôn sứ chăng ? Đúng thế đó ; mà tôi nói cho anh em biết, đây còn hơn cả ngôn sứ nữa. 10 Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng : Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến.
11 "Tôi nói thật với anh em : trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gio-an Tẩy Giả. Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông."
I. TÌM HIỂU BẢN VĂN
1. Ngữ cảnh
Với các chương 11–12 này, chúng ta đến một khúc quanh trong Tin Mừng Mt. Trong mười chương trước, Nước Trời đến gần, dường như không hề gặp trở ngại nào; ở đây, có điều mới xuất hiện: các câu hỏi chính xác được đặt ra cho Đức Giêsu.
Gioan Tẩy Giả phái các môn đệ đến hỏi Đức Giêsu: “Thầy có đúng là Đấng phải đến không, hay chúng tôi còn phải đợi ai khác?” (11,3). Phía họ, những người Pharisêu cùng với các kinh sư (x. 12,38) đã ngỏ lời lần đầu tiên trực tiếp với Đức Giêsu với giọng trách móc và phê phán: “Ông coi, các môn đệ ông làm điều không được phép làm ngày sa-bát” (12,2). Đó là những câu hỏi quan trọng vừa xuất hiện. Đứng trước bản thân và hoạt động của Đức Giêsu, người ta phải lấy lập trường. Dường như Đức Giêsu có thể là “đối tượng gây vấp phạm” (11,6), còn “thế hệ này” không sẵn sàng đón tiếp Nước Trời đang đến gần, các thành ở bờ hồ không hoán cải (x. 11,20), phong thái của Đức Giêsu thực sự bị tranh luận (x. cả ch.12), và người ta đã “bàn bạc để tìm cách giết Đức Giêsu” (12,14) .
Bầu khí ngờ vực và đặt vấn đề này là bầu khí mới so với những gì xảy ra trước đây. Quả thật, cho tới nay, chúng ta đã thấy Đức Giêsu tỏ mình ra dần dần như là Đấng Mêsia; các chặng chính được Đức Giêsu trình bày với một nội dung huấn giáo phong phú:
1. Như một đoạn văn tổng quát báo trước, các ch. 1–2 đã giới thiệu xuất xứ của Đức Giêsu, con cháu vua Đavít và tổ phụ Abraham; ngay vào thời thơ ấu, Người đã tỏ ra là Đấng Kitô, là Đấng Mêsia, hoàn tất lịch sử thánh của Israel nơi bản thân và bằng số phận của Người.
2. Ở ch. 3–4, Vị Tiền Hô mà ngôn sứ Isaia đã loan báo, đã ban phép rửa cho Đức Giêsu: dịp này, Đức Giêsu đã đăng quang làm Đấng Mêsia; sau khi đã được Chúa Cha ban chứng từ thánh hiến, đã chịu quỉ thử thách, Người đã đi loan báo Tin Mừng về Nước Thiên Chúa.
3. Trong các ch. 5–7, qua huấn giáo của Đức Giêsu, người ta đã nhận ra quyền lực của Nước Thiên Chúa và đòi hỏi phải dấn thân; Bài Giảng trên núi đã khiến cho các đám đông phải kinh ngạc và thán phục.
4. Xuyên qua các phép lạ chữa bệnh mà Đức Giêsu đã thực hiện cũng như lời nói đầy hiệu năng của Người, các ch. 8–9 giúp khám phá ra uy quyền được ban cho Người cũng như quyền lực đầy năng động của Nước Thiên Chúa.
5. Ở ch. 10, qua bài sai ban cho Mười Hai Tông đồ và bài diễn từ truyền giáo, ta khám phá ra rằng các sứ giả của Nước Thiên Chúa được thực sự chia sẻ uy quyền của Đức Giêsu, do các ông được liên kết mật thiết với bản thân Người.
Xuyên qua tất cả các chương này, ta thấy danh tiếng của Đức Giêsu ngày càng lan rộng, bay sang cả các miền chung quanh (x. 4,24; 9,26.31). Sự chống đối chưa lộ rõ bao nhiêu, chỉ có một vài lời chỉ trích phát xuất từ nhóm Pharisêu (x. 9,11) hoặc các môn đệ của ông Gioan (x. 9,14), dưới dạng những câu hỏi lịch sự, chỉ có một phản ứng quyết liệt hơn lộ ra ở 9,34, nhưng cũng còn ngắn ngủi, để rồi chỉ được nhắc lại và triển khai ở 12,24. Nói đúng ra, trong tất cả những chuyện này, chưa có tranh luận, và ngôn ngữ ẩn dụ của các dụ ngôn chưa được sử dụng, ngoại trừ câu truyện về hai loại nhà kết luận Bài Giảng trên núi (x. 7,24-27).
Tuy nhiên, nên ghi nhận phương diện đe doạ và xung đột đã được mười chương đầu này của Tin Mừng nêu lên: ý định nham hiểm của vua Hêrôđê (x. 2,16), cuộc chiến đấu chống các cám dỗ (x. 4,1-11), lời loan báo những bách hại (x. 5,10-12.44; và nhất là 10,16-23.38). Nhưng đấy là một sự đối kháng mà Đức Giêsu luôn chiến thắng, hoặc là một lời Đức Giêsu kêu gọi đừng sợ hãi, mà hãy nhận ra mối phúc của Nước Thiên Chúa ngay giữa cuộc đối đầu gian khổ. Dù sao, dường như ơn cứu độ đã được đảm bảo cho người nào đứng vững tới cùng (x. 10,22). Do giọng điệu tha thiết của Đức Giêsu nhằm giúp các môn đệ đối phó với những khó khăn và trở ngại họ sẽ gặp, Bài diễn từ truyền giáo đã mở ra một viễn tượng mới: đó là cuộc thử thách đức tin sẽ phải trải qua.
Đã đến lúc phải tự hỏi về ý nghĩa của hoạt động của Đức Giêsu, như Mt đã trình bày khá dài: phải nghĩ gì về những “việc Đức Giêsu làm” (11,2.19)? Phải hiểu thế nào về những “cử chỉ quyền lực” ấy (11,20.21.23)? Thật ra đây là câu hỏi về tư cách Mêsia của Đức Giêsu: từ ngữ “Kitô” mà Mt đã sử dụng trong ch. 1–2, đến đây mới xuất hiện lại (x. 11,2). Dường như bây giờ chúng ta đã rơi vào tình trạng lưỡng lự: ơn cứu độ vẫn còn được trình bày như có thể đạt được mà thôi, trong khi đó rõ ràng các lần từ khước, các chống đối, các tranh luận lại nối tiếp nhau đặt Đức Giêsu thành vấn đề. Tác giả sẽ trình bày phần Tin Mừng còn lại như câu truyện về một sự từ khước. Chính là theo chiều hướng này mà chúng ta có thể nói đến một khúc quanh trong diễn tiến của Tin Mừng Mátthêu.
2. Bố cục
Bản văn có thể chia thành ba phần:     
1) Mở đầu cuộc tranh luận Kitô học (11,2-3);
2) Câu trả lời của Đức Giêsu về bản thân Người (11,4-6);
3) Bài tán dương của Đức Giêsu về Gioan (11,7-11; ở trong TM, thì đọc tới c. 15).
3. Vài điểm chú giải
- Đấng phải đến (3): dịch sát ho erchomenos là “Đấng đang đến”. Chúng ta nhớ đến lời rao giảng trước đây của Gioan: “Đấng đến sau tôi thì mạnh hơn tôi (ho opisô mou erchomenos)” (3,11). Lời này đưa chúng ta trở lại với sấm ngôn Isaia 40: “Kìa Đức Chúa đến với sứ mạnh [quang lâm hùng dũng], tay nắm trọn chủ quyền” (Is 40,10). Do đó, Đấng Mêsia cũng được gọi là “Đấng được chờ đợi”, “Đấng sẽ đến”, “Đấng Thẩm phán” (x. Dcr 9,9; Tv 118,26; St 49,10). Gioan đã so sánh sức mạnh của Đấng Mêsia với việc người tiều phu dùng rìu hạ cây (x. 3,10), rồi với người nông dân sàng sảy sân lúa (3,12). Ông mời gọi người tội lỗi hoán cải và ban một phép rửa giúp bày tỏ lòng sám hối, trước khi Đấng ấy đến, là Đấng ban phép rửa trong Thánh Thần và trong lửa để tiêu diệt (3,11). Đây chính là vị Thẩm phán đáng sợ sẽ dùng lửa không hề tắt mà tiêu diệt tất cả những kẻ tội lỗi không chịu hoán cải (x. Ml 3,2-3).
- phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi (6): “Cớ vấp phạm”, skandalon, là “cái bẫy đặt trên đường; chướng ngại vật làm cho người ta té ngã”; và nghĩa bóng là tất cả những gì làm cho người ta rơi xuống về mặt luân lý hay tôn giáo. Đức Giêsu tiên liệu rằng câu trả lời của Người có thể làm cho Gioan thất vọng, bởi vì quan niệm của ông về Đấng Mêsia quá khác với cách Đức Giêsu đang thực hiện hình ảnh Đấng Mêsia của Thiên Chúa. Chúng ta có thể nghĩ đến phản ứng của Phêrô khi nghe loan báo Thương Khó (Mt 16,22-23) hoặc Giôna sau khi thấy Thiên Chúa tha thứ cho thành Ninivê (Gn 4).
4. Ý nghĩa của bản văn
Gioan Tẩy Giả đã loan báo là đến sau ông, sẽ có một người mạnh hơn ông và vượt xa ông về phẩm cách. Người ấy sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần và sẽ tách lúa với vỏ trấu ra (3,11t; x. Is 40,10).
Bây giờ Vị Tẩy Giả đang ở trong tù. Do bởi thái độ cứng rắn và những lời nói đanh thép của ông, vua Hêrôđê Antipa đã phải ra lệnh bắt giam ông. Nhưng vì ông nổi tiếng là đạo đức, ông được đối xử đặc biệt; các bạn bè có thể đến thăm ông, cho ông biết những tin tức ở bên ngoài. Ông đặc biệt quan tâm đến Đức Giêsu Nadarét.
*  Mở đầu cuộc tranh luận Kitô học (2-3)
Gioan nghe nói đến những hành động của Đức Giêsu. Phải nghĩ về Đức Giêsu như thế nào? Người có thật là Đấng mà ông đã loan báo là đang đến chăng? Quyền bính và năng lực của Người đang đang được biểu lộ ra ở đâu? Chẳng lẽ trong thân phận tù tội, ông  không đáng được Đức Giêsu dùng quyền lực Người mà giải thoát sao? Người có thật đang tách hạt lúa khỏi vỏ trấu chăng? Ở đâu? Đức Giêsu là ai? Hẳn là Người phải nói năng và hành động cách mạnh mẽ và rõ ràng hơn chứ?
Khởi đi từ hoàn cảnh cá nhân ông và sự hiểu biết của ông về các hoạt động của Đức Giêsu, Gioan nêu ra câu hỏi quyết liệt: Phải chăng đã đến lúc hoàn tất mọi sự? Chúng tôi có thể tín nhiệm vào Người chăng? Người là ai? Các môn đệ của Vị Tiền Hô đã đến gặp Đức Giêsu và nêu câu hỏi đúng như thầy họ đã dặn. 
* Câu trả lời của Đức Giêsu về bản thân Người (4-6)
Đức Giêsu không cung cấp một câu trả lời rõ ràng và trực tiếp. Qua các môn đệ Gioan, Đức Giêsu đưa Vị Tiền Hô trở lại điểm xuất phát của câu hỏi của ông. Gioan phải diễn dịch ra được câu trả lời từ các việc Đức Giêsu làm, là chính những việc đã thúc đẩy Gioan đặt câu hỏi (11,2). Các môn đệ ông lại phải về làm chứng cho thầy về những việc Đức Giêsu đã làm (“Các anh cứ về thuật lại cho Gioan những điều mắt thấy tai nghe”) và Đức Giêsu mô tả các việc ấy ra bằng cách nhắc đến các lời hứa Cựu Ước (Is 35,5t; x. Is 35,4; 29,18-19; 61,1).
Đức Giêsu khẳng định rằng lời hứa ấy đang được hoàn tất nơi các hành vi của Người; qua các hành vi này, quả thực Thiên Chúa đang can thiệp để ban ơn cứu độ. Qua các hành động của Đức Giêsu, Nước Trời hay là quyền chúa tể của Thiên Chúa với quyền lực và ân sủng, đang thật sự trở nên gần gũi (4,17). Quyền chúa tể này trước tiên không được tỏ ra như là khả năng thắng vượt các quyền lực đối lập của loài người: Gioan sẽ bị chém đầu trong ngục (14,10); Đức Giêsu sẽ chết trên thập giá; các môn đệ Người sẽ bị bách hại (10,16-25). Triều đại Thiên Chúa cũng chưa tỏ hiện rõ ràng như việc tức khắc tách biệt lúa và vỏ trấu. Việc phán xét chung kết được dành cho ngày Con Người đến: khi đó kẻ dữ sẽ bị tách ra khỏi những người công chính (13,36-43.47-50). Nước Trời sẽ được biểu lộ nơi sự kiện những người sống trong cảnh cùng quẫn sẽ được Thiên Chúa trợ giúp (8,2–9,35) và nơi sự kiện Tin Mừng được loan báo với tất cả uy quyền (5,1–7,29). Đức Giêsu bắt đầu công việc rao giảng bằng cách loan báo mối phúc cho người nghèo (5,3); ở tại trung tâm của lời rao giảng này, có sứ điệp về vị Thiên Chúa quyền năng và nhân ái, sứ điệp về Cha Người và Cha của tất cả mọi người, Đấng muốn cho tất cả mọi người được hiệp thông mãi mãi trong vinh phúc với Ngài. Đức Giêsu tự giới thiệu mình như là Đấng cứu chuộc những người cùng khổ và như sứ giả làm chứng về niềm vinh phúc ấy. Trước tiên Người không đến như một người đấu tranh chống lại bạo lực và như thẩm phán nghiêm khắc. 
Mỗi người phải tự nhận định và lấy lập trường đối với Người (x. 11,20-24). Đức Giêsu cũng giúp chúng ta ý thức về điểm này: “Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi” (11,6). Người không áp đặt cách hành động của Người nhờ sức thuyết phục của những sự kiện hoàn toàn hiển nhiên; Người dành không gian cho người ta đón nhận hoặc từ khước, cho người ta tin hoặc không tin. 
* Bài tán dương của Đức Giêsu về Gioan (7-11)
Sau khi đã trả lời câu hỏi về thân thế Người, bây giờ Đức Giêsu đề cập đến công việc và bản thân của Vị Tẩy Giả (11,7-15). Người ca ngợi lối xử sự cương nghị và lối sống không ngạo mạn tự phụ của đấng không hề cúi gập người lại trước những bậc quyền quý như một cây sạy cong người trước gió (x. 14,3-12) và không ăn mặc lụa là mềm mỏng. Chính sự trung tín và sự dơn giản của ông làm cho ông trở nên đúng là một ngôn sứ nói nhân danh Thiên Chúa (x. 21,26.32) và đáng tin. Nhưng ông còn hơn là một ngôn sứ. Tất cả những vị đến trước ông đều thuộc về thời đại lời hứa, các vị ấy chỉ loan báo từ xa biến cố Đấng Mêsia đến trong quyền lực và mang theo ân sủng (11,13). Gioan là vị ngôn sứ của thời kỳ hoàn tất, nên cao trọng hơn tất cả các vị đi trước. Ông là sứ giả đi ngay trước Đức Chúa và chuẩn bị trực tiếp cho Người đến (11,10). Ông là Êlia đi trước Đức Chúa và chuẩn bị cho dân chúng đón tiếp Người (11,14; x. Ml 3,23; H c 48,10).
Với cách đánh giá Vị Tẩy Giả như thế, Đức Giêsu một lần nữa trả lời gián tiếp cho câu hỏi của ông. Nếu Gioan ở rất sát thời kỳ hoàn tất, thì với Đức Giêsu, thời này đã đến. Nếu Gioan là vị sứ giả dọn đường, thì với Đức Giêsu, người ta đã đón được Đức Chúa đến: không chính xác theo kiểu ông hình dung và chờ đợi (x. 3,12), mà là theo cách Thiên Chúa đã định. Sánh với những người đã đến trước, ông là người cao trọng nhất. Sánh với những người đang thuộc về Đức Giêsu và có thể trải nghiệm sự gần kề của Nước Trời trong sự hiệp thông với Người, ông là người nhỏ. Sự vĩ đại và nhỏ bé ấy không liên hệ đến ơn cứu độ hoặc giá trị luân lý của con người, nhưng liên hệ đến thời gian và biến cố trong đó người ấy được tham dự vào. Chính vì thế Đức Giêsu bảo rằng các môn đệ có phúc so với nhiều ngôn sứ và người công chính (13,16t). Như thế, thời đại và công trình của Đức Giêsu  có một ý nghĩa duy nhất.
 + Kết luận
Qua các môn đệ của Vị Tẩy Giả, Đức Giêsu cũng trả lời cho chúng ta: Người chính là Đấng Mêsia mà Thiên Chúa đã hứa ban cho dân Chúa từ ngàn xưa. Thiên Chúa vẫn trung thành với lời Ngài hứa; chỉ có con người qua dòng thời gian, đã giải thích sai lạc lời Thiên Chúa hứa để đưa nhau đến những niềm chờ mong hão huyền, theo lòng dạ hẹp hòi của mình. Hôm nay, Đức Giêsu mời chúng ta điều chỉnh lại cách chúng ta nhìn lịch sử cứu độ: không theo khuôn khổ các giấc mơ của chúng ta, nhưng đúng theo chương trình của Thiên Chúa. Và nếu qua Lời Chúa hôm nay, người môn đệ nhận ra rằng mình cũng được mời gọi làm Tiền Hô của Đức Kitô đối với con người hôm nay, thì chúng ta cũng cần nhớ rằng, chúng ta chỉ có thể chu toàn được sứ mạng nếu dựa vào phẩm cách cao quý của Đức Giêsu, Đấng chúng ta loan báo.
II. BÀI HỌC CHO CHÚNG TA
1. Hôm nay, nhiều Kitô hữu vẫn đang mơ một ơn cứu độ không phù hợp với cách Thiên Chúa quan niệm. Việc Đức Giêsu chữa bệnh và nhất là việc loan báo Tin Mừng cho người nghèo cho thấy rằng Người không phải là một thẩm phán nghiêm khắc nhưng là một vị Mêsia ân cần và từ bi. Thay vì trừng phạt những kẻ tội lỗi, loại trừ những kẻ gian ác, Người lại ban ơn chữa lành cả tâm hồn và thân xác, Người an ủi, Người soi chiếu, Người trợ giúp những ai đang đau khổ, Người đi qua giữa loài người để chỉ làm điều thiện (ch. 8–9), tha thứ tội lỗi (9,2). Hẳn là có những người khó chịu? Ngay chúng ta đây, chúng ta có chấp nhận được việc Thiên Chúa mạc khải tình yêu của Ngài ra trong sự khiêm nhường và yếu đuối chăng? Do đó Đức Giêsu đã nói: “Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi”. Đây cũng chính là “cớ vấp phạm” do các Mối Phúc gây ra.
2. Con đường tất cả các môn đệ phải theo là nhìn thấy các dấu chỉ mà biết giải thích đúng đắn, biết nhận ra đó là các công trình của Thiên Chúa. Đây là nẻo đường đức tin, khởi đi từ những điều thấy được và đưa tới chỗ khám phá ra Đức Giêsu là ai. Đây là con đường đưa từ bóng tối đến ánh sáng, đi từ những dấu chỉ đến với thực tại được ám chỉ. Nhìn Hài Nhi bé bỏng yếu ớt nằm trong máng cỏ, mà nhận ra đó là Cứu Chúa và Đức Chúa; nhìn Con người bị đóng đinh đau đớn và nhục nhã nhất mà nhận ra đó là Đức Vua Cứu thế, đấy là qua dấu chỉ mà khám ra được thực tại.
3. Đức Giêsu tôn trọng tự do chọn lựa hay từ chối của chúng ta; Người không áp đặt. Do đó, chúng ta không được đánh giá Đức Giêsu tùy theo các chờ đợi hoặc ước muốn của chúng ta, và dựa trên đó mà chỉ trích hay từ khước Người. Trái lại, chúng ta phải thấy thực sự Người là ai và Người đang làm gì, để rồi đón tiếp Người với niềm vui và tri ân, cho dù chúng ta phải sửa chữa và bỏ đi một vài ý tưởng hoặc sự chờ đợi sai lạc nào đó.

4. Là những con người sống ở thời đại “cuối cùng”, chúng ta “có phúc” hơn là chính Gioan Tẩy Giả. Tuy nhiên, chúng ta có biết trân trọng những ân huệ đang nhận và dùng những ân huệ đó mà xây dựng cuộc sống hạnh phúc cho người khác chăng?

Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2013

Lịch Phụng Vụ Tháng 12 Năm 2013 (Mùa Vọng Năm A)


Tháng Mười Hai 2013
Chủ Nhật1TmChúa Nhật Thứ Nhất Mùa Vọng
Is 2:1-5 Tv 122:1-2,3-4,45,6-7,8-9 Rm 13:11-14 Mt 24:37-44
Thánh Vịnh Tuần 2
29-10 (AL)
Thứ Hai2TmThứ Hai Tuần Thứ Nhất Mùa Vọng
Is 2:1-5;Is 4:2-6 Tv 122:1-2,3-4,4-5,6-7,8-9 Mt 8:5-11
30-10 (AL)
Thứ Ba3TrThánh Phanxicô Xaviê, Lm
Is 11:1-10 Tv 72:1,7-8,12-13,17 Lc 10:21-24
1-11 (AL)
Thứ Tư4TmThánh Gioan Đamátxênô, Lmts
Is 25:6-10 Tv 23:1-3,3-4,5,6 Mt 15:29-37
2-11 (AL)
Thứ Năm5TmThứ Năm Tuần Thứ Nhất Mùa Vọng
Is 26:1-6 Tv 118:1,8-9,19-21,25-27 Mt 7:21,24-27
3-11 (AL)
Thứ Sáu6TmThánh Nicôla, Tiến Sĩ
Is 29:17-24 Tv 27:1,4,13-14 Mt 9:27-31
4-11 (AL)
Thứ Bảy7TrThánh Ambrose, Gmtsht
Is 30:19-21,23-26 Tv 147:1-2,3-4,5-6 Mt 9:35;10:1,6-8
5-11 (AL)
Chủ Nhật8TmChúa Nhật Thứ Hai Mùa Vọng
Is 11:1-10 Tv 72:1-2,7-8,12-13,17 Rm 15:4-9 Mt 3:1-12
Thánh Vịnh Tuần 3
6-11 (AL)
Thứ Hai9TrLễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội
Is 35:1-10 Tv 85:9-10,11-12,13-14 Lc 5:17-26
7-11 (AL)
Thứ Ba10TmThứ Ba Tuần Thứ Hai Mùa Vọng
Is 40:1-11 Tv 96:1-2,3,10,11-12,13 Mt 18:12-14
8-11 (AL)
Thứ Tư11TmThánh Damasus I, Giáo Hoàng
Is 40:25-31 Tv 103:1-2,3-4,8,10 Mt 11:28-30
9-11 (AL)
Thứ Năm12TrLễ Đức Mẹ Guadalupe
Is 41:13-20 Tv 145:1,9,10-11,12-13 Mt 11:11-15
10-11 (AL)
Thứ Sáu13ĐThánh Lucia, Đttđ
Is 48:17-19 Tv 1:1-2,3,4,6 Mt 11:16-19
11-11 (AL)
Thứ Bảy14TrThánh Gioan Thánh Giá, Lmts
Hc 48:1-4,9-11 Tv 80:2-3,15-16,18-19 Mt 17:10-13
12-11 (AL)
Chủ Nhật15TmChúa Nhật Thứ Ba Mùa Vọng
Is 35:1-6,10 Tv 146:6-7,8-9,9-10 Gc 5:7-10 Mt 11:2-11
Thánh Vịnh Tuần 4
13-11 (AL)
Thứ Hai16TmThứ Hai Tuần Thứ Ba Mùa Vọng
Ds 24:2-7,15-17 Tv 25:4-5,6-7,8-9 Mt 21:23-27
14-11 (AL)
Thứ Ba17TmThứ Ba Tuần Thứ Ba Mùa Vọng
St 49:2,8-10 Tv 72:3-4,7-8,17 Mt 1:1-17
15-11 (AL)
Thứ Tư18TmThứ Tư Tuần Thứ Ba Mùa Vọng
Hc 23:5-8 Tv 72:1,12-13,18-19 Mt 1:18-24
16-11 (AL)
Thứ Năm19TmThứ Năm Tuần Thứ Ba Mùa Vọng
Tl 13:2-7,24-25 Tv 71:3-4,5-6,16-17 Lc 1:5-25
17-11 (AL)
Thứ Sáu20TmThứ Sáu Tuần Thứ Ba Mùa Vọng
Is 7:10-14 Tv 24:1-2,3-4,5-6 Lc 1:26-38
18-11 (AL)
Thứ Bảy21TmThánh Phêrô Canisius, Lmts
Dc 2:8-14;Xp 3:14-18 Tv 33:2-3,11-12,20-21 Lc 1:39-45
19-11 (AL)
Chủ Nhật22TmChúa Nhật Thứ Tư Mùa Vọng
1 Sm 1:24-28 1 Sm 2:1,4-5,6-7,8 Lc 1:46-56
Thánh Vịnh Tuần 3
20-11 (AL)
Thứ Hai23TmThánh Gioan thành Kanty, Lm
Ml 3:1-4,23-24 Tv 25:4-5,8-9,10,14 Lc 1:57-66
21-11 (AL)
Thứ Ba24TmThứ Ba Tuần Thứ Tư Mùa Vọng
2 Sm 7:1-5,8-11,16 Tv 89:2-3,4-5,27,29 Lc 1:67-79
22-11 (AL)
Thứ Tư25XLễ Giáng Sinh
Is 52:7-10 Tv 98:1,2-3,34,5-6 Dt 1:1-6 Ga 1:1-18;1:1-5,9-14
23-11 (AL)
Thứ Năm26ĐThánh Stêphanô, Tđ
Cv 6:8-10;7:54-59 Tv 31:3-4,6,7,8,17,21 Mt 10:17-22
24-11 (AL)
Thứ Sáu27TrThánh Gioan, Tông Đồ Thánh Sử
1 Ga 1:1-4 Tv 97:1-2,5-6,11-12 Ga 20:2-8
25-11 (AL)
Thứ Bảy28ĐCác Thánh Anh Hài
1 Ga 1:5–2:2 Tv 124:2-3,4-5,7-8 Mt 2:13-18
26-11 (AL)
Chủ Nhật29TrLễ Thánh Gia
1 Sm 1:20-22,24-28 Tv 84:2-3,5-6,9-10 1 Ga 3:1-2,21-24 Lc 2:41-52
27-11 (AL)
Thứ Hai30TrThứ Hai trong tuần Bát Nhật Lễ Giáng Sinh
1 Ga 2:12-17 Tv 96:7-8,8-9,10 Lc 2:36-40
28-11 (AL)
Thứ Ba31TrThánh Sylvester I, Giáo Hoàng
1 Ga 2:18-21 Tv 96:1-2,11-12,13 Ga 1:1-18
29-11 (AL)
 
Nguồn: http://www.songtinmungtinhyeu.org/lichconggiao.php?open=lichconggiao&thang=12&nam=2013

Mừng SINH CHA GS.ĐINH QUANG THÀNH

CẢM TẠ CHÚA ĐÃ CHO CON LÀM NGƯỜI
VÀ CHO CON ĐƯỢC VINH DỰ LÀM MỘT SỐ CÔNG VIỆC
CHÚA ĐÃ LÀM LÚC TẠI THẾ.
XIN CẢM TẠ ƠN CHÚA ĐẾN MUÔN ĐỜI!


Kết thúc Lớp Giáo Lý Dự Tòng III-2013

Kết thúc lớp giáo lý Dự Tòng gx Chánh Tòa Long Xuyên 06/12/2013.
Chào mừng các Kitô Hữu mới gia nhập Hội Thánh.
Xin Chúa tuôn đổ muôn ơn lành trên các anh chị
Phan Nhựt (trích từ Facebook)